|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 258/2024/HSST Ngày 10/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Long
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Liên
Bà Nguyễn Thị Thanh Hường
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Giang - Thư ký toà án;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm: Ông Lương Duy Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 218/2024/HSST, ngày 20/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2024/QĐXXST-HS ngày 27/8/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn L, sinh năm 1993.Tên gọi khác: Không. Nơi thường trú: thôn Đ, xã P, Ứ, Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do Học vấn: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Bố: Đỗ Văn T, sinh năm 1963. Mẹ: Hoàng Thị B, sinh năm 1964. Gia đình có 03 anh em bị cáo là con thứ ba. Vợ: Lê Huyền C, sinh năm 1995. Có 01 con sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Công ty TNHH V. Địa chỉ: L -14, KĐT T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng C1. Người đại diện theo uỷ quyền anh Vũ Văn T1, sinh năm 1993, HKTT: Đ, H, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn L làm nhân viên giao hàng tại bưu cục chuyển phát nhanh B1, địa chỉ: Số I B V đường T, phường T, quận N, thành phố Hà Nội là công ty hợp tác với công ty TNHH V từ khoảng tháng 3/2021 nhưng không ký hợp đồng lao động với công ty. L chỉ cam kết thực hiện đúng quy trình, quy định của công ty. Lương có nhiệm vụ nhận hàng từ bưu cục để đi giao cho khách, thu tiền COD rồi nộp về công ty trước 24h cùng ngày. Quy định của công ty đã được phổ biến cho toàn bộ nhân viên.
Trong quá trình làm việc, trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/2023 đến ngày 24/10/2023, Đỗ Văn L đã nhận từ công ty tổng số 107 đơn hàng với tổng giá trị đơn hàng là: 68.531.478 đồng để đi giao cho khách. Cụ thể:
- + Ngày 15/10/2023, L nhận 01 đơn hàng trị giá 1.305.100 đồng.
- + Ngày 16/10/2023, L nhận 07 đơn hàng tổng trị giá 3.928.790 đồng.
- + Ngày 17/10/2023, L nhận 06 đơn hàng tổng trị giá: 8.135.549 đồng.
- + Ngày 18/10/2023, L nhận 02 đơn hàng với tổng trị giá: 2.173.000 đồng.
- + Ngày 19/10/2023, L nhận 06 đơn hàng với tổng trị giá: 5.652.000 đồng.
- + Ngày 20/10/2023, L nhận 12 đơn hàng với tổng trị giá: 9.078.000 đồng.
- + Ngày 21/10/2023, L nhận 16 đơn hàng với tổng trị giá: 13.942.000 đồng.
- + Ngày 22/10/2023, L nhận 07 đơn hàng với tổng trị giá: 7.756.350 đồng.
- + Ngày 23/10/2023, L nhận 12 đơn hàng với tổng trị giá: 6.168.450 đồng.
- + Ngày 24/10/2023, L nhận 38 đơn hàng với tổng trị giá: 10.392.239 đồng.
Sau khi nhận các đơn hàng trên, L đã giao cho khách thu tiền mặt hoặc tiền do khách chuyển khoản vào tài khoản của mình nhưng L vẫn không xác nhận trên hệ thống đã giao hàng thành công mà để trạng thái đang giao hàng để công ty tiếp tục giao đơn hàng mới cho L. Qua đó, L không phải nộp tiền về công ty và chiếm đoạt số tiền trên. Đến ngày 24/10/2023, L mới xác nhận trên hệ thống đã giao hàng thành công đối với 107 đơn hàng trên. Toàn bộ số tiền hàng là 68.531.478 đồng thu của khách L đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết. Khi được công ty yêu cầu trả tiền thì L nói dối sử dụng tiền đưa mẹ đi khám bệnh. Sau đó, công ty TNHH V đến cơ quan điều tra trình báo sự việc.
Về dân sự: Ngày 09/01/2024, Đỗ Văn L đã hoàn trả số tiền 68.531.478 đồng cho anh Vũ Văn T1 (sinh năm 1993, HKTT: Đ, H, Hà Nội - là đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH V). Sau khi nhận lại tài sản anh T1 không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Tại bản cáo trạng số 205/CT-VKS-NTL ngày 9/8/2024 của VKSND quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Đỗ Văn L về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn L thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, luận tội nêu rõ: Giá trị tài sản bị cáo Đỗ Văn L chiếm đoạt là 68.531.478 đồng, trong đó có 09 lần chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000đồng đủ cấu thành tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo điểm c khoản 2 Điều 175 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả, nhân thân trước khi phạm tội chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần. Vì vậy đề nghị căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s,b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, đề nghị xử phạt Đỗ Văn L từ 24 - 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Dân sự: Không. Không phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng: Không.
Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận N; Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như hành vi của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa làm rõ: Đỗ Văn L là nhân viên giao hàng của bưu cục chuyển phát nhanh B1, địa chỉ: Số I B V đường T, phường T, quận N, thành phố Hà Nội là công ty hợp tác với công ty TNHH V từ khoảng tháng 3/2021 nhưng không ký hợp đồng lao động. Trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/2023 đến ngày 24/10/2023, Đỗ Văn L đã nhận từ công ty tổng số 107 đơn hàng với tổng giá trị đơn hàng là: 68.531.478 đồng. Sau khi nhận số hàng trên, mặc dù đã giao hàng thu tiền của khách nhưng L đưa ra thông tin gian dối về việc chưa giao hàng thành công và không nộp tiền về công ty theo quy định mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền hàng là 68.531.478 đồng của công ty.
Bản thân giữa bị cáo Đỗ Văn L và công ty TNHH V không có ký hợp đồng lao động, chỉ thoả thuận làm công việc giao nhận hàng hoá và thu tiền hàng đã giao nộp lại cho công ty.
[3]. Giá trị tài sản bị cáo Đỗ Văn L chiếm đoạt là 68.531.478 đồng, đáng chú ý liền trong thời gian ngắn từ ngày 15/10/2023 đến ngày 24/10/2023, bị cáo có 09 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt giá trị trên 2.000.000 đồng. Do vậy hành vi của bị cáo đủ cấu thành tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 BLHS2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[5]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, tổ chức, pháp nhân được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo vì mục đích tư lợi cá nhân thực hiện tội phạm. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ngoài xã hội một thời gian mới đủ cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Song khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, hậu quả xảy ra bị cáo đã khắc phục toàn bộ, nhân thân bị cáo trước khi phạm tội chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội từ hai lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6]. Dân sự: Không. Vật chứng: Không. Về hình phạt bổ sung: Không.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo luật.
Vì lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s, b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Các Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.
Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Đỗ Văn L 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Không. Dân sự: Không. Vật chứng: Không.
2- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo L có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Quang Long |
Bản án số 258/2024/HSST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 258/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương - Công ty TNHH VGATE
