|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 258/2024/HS-ST
Ngày 09-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương;
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;
2/ Bà Phạm Tú Nhi.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 259/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2024/QĐXX-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Anh T, sinh năm 2002 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1972 (đã chết) và bà Lê Thị T2, sinh năm 1974; bị cáo có 01 anh ruột sinh năm 1994; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 cho đến nay; (Có mặt).
- Bị hại: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1983 – Chủ cửa hàng điện thoại táo Pink; địa chỉ: số A đường N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Lê Văn D, sinh năm 1976; địa chỉ: số E khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Có mặt).
2/ Bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1994; địa chỉ: thôn H, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định; (Vắng mặt).
3/ Bà Bùi Thị Hồng N2, sinh năm 1975; địa chỉ: tổ E, khu phố F, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; (Vắng mặt).
4/ Ông Nguyễn Tùng A, sinh năm 1984; địa chỉ: số E N, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
5/ Ông Trần Văn T3, sinh năm 1991 – Chủ cửa hàng T4; địa chỉ: số I T, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Anh T, sinh năm 2002; HKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, là nhân viên bán hàng và hỗ trợ kỹ thuật từ tháng 8 năm 2023 cho cửa hàng điện thoại Táo PINK do bà Nguyễn Thị N3 đứng tên tại số A, đường N, khu phố B, phường D, thành phố D, tinh B. Khoảng 10 giờ ngày 15/4/2024, chị Đỗ Thị N1, sinh năm 1994; HKTT: Thôn H, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định, là quản lý cửa hàng Táo PINK có giao cho T 03 điện thoại gồm: 01 (một) điện thoại Iphone 12Pro màu đen, 01 (một) điện thoại Iphone 12Pro màu vàng và 01 (một) điện thoại Iphone 13ProMax 128G màu xanh để mang đến cửa hàng T4; địa chỉ số I T, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để sửa chữa. Tuy nhiên, T chỉ đưa 02 chiếc điện thoại Iphone 12Pro màu đen và màu vàng cho cửa hàng T4 để sửa chữa, còn 01 (một) điện thoại Iphone 13ProMax 128GB màu xanh, T mang về lại cửa hàng giấu vào tủ (không ai biết) nhằm chiếm đoạt tài sản.
Ngày 19/4/2024, T lên mạng xã hội Facebook nhóm “Iphone cũ Bình Dương” để rao bán chiếc điện thoại Iphone 13ProMax 128GB màu xanh thì có một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch đồng ý mua điện thoại với giá 16.000.000 đồng thì T đồng ý. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T mang theo điện thoại Iphone 13ProMax 128GB màu xanh đến cầu vượt L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để giao cho người đàn ông này. Do tài khoản của T bị lỗi nên T nhờ một người bạn tên Lê Văn V, sinh năm 2002 (địa chỉ: T, thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) để lấy số tài khoản của V cho người đàn ông chuyển số tiền 16.000.000 đồng vào tài khoản của V (V không biết số tiền này do T thực hiện hành vi phạm tội mà có). Sau đó, V có đưa tiền mặt cho T 5.000.000 đồng, số tiền còn lại V nói sẽ chuyển khoản cho T sau. Tiếp đó, khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/4/2024, T bảo với chị N1 có khách mua điện thoại di động Iphone 14 ProMax 128 GB màu tím giá 23.000.000 đồng thì chị N1 nói T đi giao cho khách. T mang theo điện thoại di động Iphone 14 ProMax 128 GB màu tím đến Sân bay T bán cho Đỗ Việt H (là bạn của T nhưng không rõ nhân thân lai lịch) với giá 23.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền mà H giao cho T, T nảy sinh ý định chiếm đoạt và đã tiêu xài cá nhân hết, T không giao tiền cho chị N1, mà nói dối với chị N1 là đến ngày 26/4/2024 khách mới giao tiền. Đến ngày 23/4/2024, sau khi chị Bùi Thị N (Chủ cửa hàng táo Pink) cùng các nhân viên kiểm kê điện thoại thì phát hiện mất 02 điện thoại gồm 01 (một) điện thoại Iphone 13ProMax 128G màu xanh, 01 (một) điện thoại Iphone 14 ProMax 128 GB màu tím nên trình báo Công an phường D, thành phố D.
Ngày 24/4/2024, Lê Anh T tới Công an phường D, thành phố D để đầu thú về hành vi phạm tội của mình, Công an phường D tiến hành lập biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú. Ngày 03/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Anh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại Biên bản và Kết luận định giá tài sản số 82 ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, kết luận: 01 (một) điện thoại di động Iphone 13ProMax 128GB màu xanh có trị giá 12.500.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 ProMax 128 GB màu tím có trị giá 20.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 02 tờ tiền, mỗi tờ mệnh giá 500.000 đồng.
Cáo trạng số: 271/CT-VKS ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Lê Anh T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
* Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền mặt 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Anh T, là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
* Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn D là chú ruột của T đã bồi thường cho bị hại bà Bùi Thị N số tiền 32.500.000 đồng, bà N đã nhận số tiền và không có yêu cầu nào khác.
Đối với Đỗ Việt H là người mua điện thoại của T và Lê Văn V là người mà T nhờ nhận tiền bán điện thoại. Qúa trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Đỗ Việt H và Lê Văn V. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý theo quy định.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án, xác định:
Ngày 15/4/2024, chị Đỗ Thị N1 quản lý cửa hàng T5 (do chị Nguyễn Thị N3 làm chủ) tại số A, đường N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương giao cho T 01 (một) điện thoại Iphone 13ProMax 128GB màu xanh trị giá 12.500.000 đồng để mang đi sửa tại cửa hàng T4, tuy nhiên T không đi sửa mà mang đi bán lấy tiền tiêu xài; Ngày 21/4/2024 chị N1 tiếp tục đưa cho T 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 ProMax 128 GB màu tím, trị giá 20.000.000 đồng để đi bán cho khách hàng. Sau khi nhận tiền từ việc bán điện thoại, T không đưa lại cho cửa hàng T5 mà chiếm đoạt.
Tổng số tiền mà Lê Anh T chiếm đoạt tại cửa hàng T5 là 32.500.000 đồng.
[3] Như vậy, hành vi trên của bị cáo Lê Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Cáo trạng số 271/CT-VKS ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú khai nhận hành vi phạm tội và đã tác động cho gia đình bồi thường khắc hậu quả cho bị hại. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[8] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của người bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền mặt 1.000.000 đồng, bao gồm: 02 tờ tiền, mỗi tờ có mệnh giá 500.000 đồng, đây là số tiền mà Lê Anh T thực hiện hành vi phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn D là chú ruột của bị cáo đã đứng ra bồi thường cho bị hại bà Bùi Thị N – chủ cửa hàng Táo Pink số tiền 32.500.000 đồng, bà N đã nhận số tiền và không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[11] Đối với Đỗ Việt H là người mua điện thoại của T và Lê Văn V là người mà T nhờ nhận tiền bán điện thoại, quả trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Đỗ Việt H và Lê Văn V. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, về trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[13] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đa, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 175; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 89, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 02 tờ tiền, mỗi tờ mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). (Theo Lệnh thanh toán ngày 13/8/2024 vào tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Anh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 258/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 258/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Anh T
