Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 258/2024/HS-ST

Ngày: 06/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị V - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 241/2024/TLST/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

Ngô Hùng T (tên gọi khác: không), sinh năm 1996, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: Số E đường B, khu phố E, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Ngô Đại H (chết); Mẹ: Võ Thị Hồng N; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/08/2023.

(Bị cáo Ngô Hùng T có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Hùng TLưu Bảo V1 (sinh năm 1992) đều là người nghiện ma túy và sống chung với nhau như vợ chồng. Do T và V1 không có chỗ ở ổn định và tiền tiêu xài nên vào khoảng giữa tháng 7/2023, bà Võ Thị Ú, sinh năm 1949 (bà ngoại T) cho T và V1 về nhà ở phụ bán tạp hóa tại địa chỉ giao lộ T và đường C, khu phố A, phường A, thành phố T, mỗi ngày sẽ trả cho T và V1 số tiền 200.000 đồng. Số tiền này, T chia cho V1 100.000 đồng còn lại 100.000 đồng là tiền riêng của T giữ để sử dụng. Do bản thân nghiện ma túy và thông qua bạn nghiện nên T biết được người đàn ông (không rõ nhân thân) có bán ma túy khu vực vòng xoay cầu T nên đã nhiều lần đến đây mua ma túy để sử dụng. Vào khoảng 20 giờ ngày 24/8/2023, T điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 72L2-1592 của T đến vòng xoay cầu T gặp người đàn ông mua 200.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý bán và đưa cho T một gói nylon chứa ma túy đá được bọc trong giấy bạc. Có được ma túy, T bỏ vào bóp da cất vào túi quần của mình rồi điều khiển xe về nhà bà Ú để tiếp tục bán tạp hóa. Vào lúc 00 giờ 15 phút ngày 25/8/2023, Tổ tuần tra 363 Công an thành phố Thủ Đức kết hợp Công an phường A kiểm tra hành chính phát hiện T cất giấu ma túy trong người nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật có liên quan. Qua làm việc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ngoài ra T còn khai nhận các ngày 21 – 22/8/2023 có mua ma túy về cho V1 sử dụng chung.

Lưu Bảo V1 khai nhận: Tiền làm thuê có được 200.000 đồng thì T và V1 chia đều mỗi người 100.000 đồng. Đây là tiền riêng của mỗi người, việc T sử dụng tiền của T để mua ma túy và cất giấu ma túy trong người thì V1 không biết. Lời khai của T cũng xác định tiền mua ma túy và việc cất giấu ma túy phù hợp với lời khai của V1.

Tại Bản kết luận giám định số: 9415/KL-KTHS, ngày 31/8/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1003 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 244/CT-VKS.TPTĐ ngày 03/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Ngô Hùng T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Ngô Hùng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô Hùng T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải theo các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo Ngô Hùng T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Ngô Hùng T không tranh luận, bào chữa.

Lời sau cùng bị cáo trình bày:

Bị cáo Ngô Hùng T: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Hùng T phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:

Nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiệm ma túy của bản thân nên vào ngày 25/8/2023 tại giao lộ T và đường C, khu phố A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Ngô Hùng T có hành vi cất giấu trái phép khối lượng 0,1003 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Hùng T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Hùng T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[4] Đối với việc Ngô Hùng T khai nhận ngày 21 – 22/8/2023 có cung cấp trái phép chất ma túy cho V1 sử dụng: Qua điều tra, V1 cũng thừa nhận vào ngày 21 – 22/8/2023 T có đưa ma túy cho V1 sử dụng chung; Tiền làm thuê có được 200.000 đồng thì T và V1 chia đều mỗi người 100.000 đồng. Đây là tiền riêng của mỗi người, việc T sử dụng tiền của T để mua ma túy và cất giấu ma túy trong người Tấn thì V1 không biết. Lời khai của T cũng xác định tiền mua ma túy và việc cất giấu ma túy phù hợp với lời khai của V1.

Xét thấy ngoài lời khai của T và V1 thừa nhận có sử dụng ma túy cùng nhau nhưng hiện tại khối lượng ma túy không còn. Vì vậy chỉ căn cứ vào lời khai của T và V1 là không đủ cơ sở để xem xét xử lý hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của T vào các ngày 21 – 22/8/2023. Do đó, cơ quan cảnh cát Điều tra không xử lý hình sự đối với Lưu Bảo V1 và đã chuyển Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa Lưu Bảo V1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định 0,0595 gam loại Methamphetamine là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 72L2-1592, số máy FM152FMHV500783, số khung WCHHMN6H000783: Tấn khai nhận mua của người không biết rõ nhân thân với số tiền 1.900.000 đồng và xe không có giấy chứng nhận đăng ký. Qua tra cứu dữ liệu thông tin xác định xe mô tô trên do ông Nguyễn Minh T1 đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên qua làm việc ông T1 cho biết từ trước đến nay bản thân không có mua và sử dụng xe mô tô trên. Hội đồng xét xử xét thấy, cần giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô trên. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Ngô Hùng T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ngô Hùng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mẫu vật còn lại sau khi giám định có chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra (kết luận giám định số 9415 ngày 31/8/2023-1879/2023- Ngô Hùng T): tinh thể không màu có khối lượng 0,0595 gam.

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 72L2-1592, số máy FM152FMHV500783, số khung WCHHMN6H000783: Giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô trên. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

(Theo Phiếu nhập kho số NK24/297C ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Ngô Hùng T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND, CA, Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 258/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger