TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 258/2024/DS-PT
Ngày: 03 - 10 - 2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bình Đảo.
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Kha.
Ông Lê Quang Tấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Vũ Tường Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Bà Đào Thị Ngọc Trâm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 31 tháng 5, ngày 5 tháng 8, ngày 12 tháng 8 và ngày 03 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 55/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2023/DS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 105/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1950; Có mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Phan Văn C, sinh năm 1973 (Theo văn bản ủy quyền ngày 24/9/2024); Có mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N: Luật sư Nguyễn D – Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt.
Địa chỉ: D H, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Ông Võ Đức T, sinh năm 1953; Có mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang;
Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc T1 – Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện K.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T2 – Chức vụ: Phó Trưởng phòng Kinh tế hạ tầng- Tài nguyên và Môi trường huyện K, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt.
- Bà Phan Thị Ánh L, sinh năm 1966 (con bà N); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Phan Văn C, sinh năm 1973 (con bà N); Có mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Phan Văn T3, sinh năm 1977 (con bà N); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Phan Thị Thu H, sinh năm 1980 (con bà N); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Phan Văn D1, sinh năm 1970 (con bà N); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Số H đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Võ Minh V, sinh năm 1973 (con ông T); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Võ Chí T4, sinh năm 1975 (con ông T); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Võ Minh P, sinh năm 1977 (con ông T); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Võ Minh C1, sinh năm 1980 (con ông T); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Võ Mộng T5, sinh năm 1982 (con ông T); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Võ Thị Mộng T6, sinh năm 1984 (con ông T); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Võ Tấn T7, sinh năm 1986 (con ông T); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Võ Thị Mộng T8, sinh năm 1988 (con ông T); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Võ Thành Đ, sinh năm 1991 (con ông T); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Chị Võ Thị Mộng N1, sinh năm 1991 (con ông T); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Nguyễn Trung N2, sinh năm 1990; Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Đinh Thị Ngọc G, sinh năm 1982 (vợ ông N2); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Lê Thị Ngọc H1, sinh năm 1968; Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Lê Văn Út E, sinh năm 1967; Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Trương Thị N3, sinh năm 1958 (vợ ông T9); Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Đoàn Trưởng T9, sinh năm 1962; Có mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1987; Có mặt.
Địa chỉ: Lô A, căn C, khu đô thị T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang;
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị N và bị đơn ông Võ Đức T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:
Bà N có mảnh đất tọa lạc tại tổ A, ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang do cha bà là ông Trần Văn Y để lại diện tích 589,95m². Năm 2007 Chủ tịch UBND tỉnh K ban hành quyết định số: 1021/QĐ-UBND), nội dung của quyết định giao cho bà Ngô Thị L1 diện tích 151,85m² đất, phần đất còn lại 438,1m² là đất thuộc quyền sở hữu của bà N. Ngày 09/5/2007 bà N được UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 554088 diện tích 438,1 m² tọa lạc ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Năm 2012 bà Ngô Thị L1 đã chuyển nhượng phần đất 151,85m² mà bà L1 được giao theo quyết định số: 1021/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh K cho ông Đoàn Trưởng T9 bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự giữa bà Ngô Thị L1 và ông Đoàn Trưởng T9 của Tòa án Nhân dân huyện Kiên Hải ngày 31/08/2012, đến ngày 6/6/2016 Chi cục thi hành án Dân sự huyện Kiên Hải ra Biên bản về việc giải quyết Thi hành án quyết định chuyển nhượng đất đai của bà Ngô Thị L1 cho ông Đoàn Trưởng T9 và ông T9 trả cho bà Ngô Thị L1 số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) và 10 chỉ vàng 24K cùng số tiền cưỡng chế là 10.610.000đ. Theo đó ông T9 yêu cầu Thi hành án và Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải cùng các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương tạo điều kiện cho ông T9 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên phần đất 151,85 m² đất của bà Ngô Thị L1 đã được chuyển nhượng cho ông T9, do đó bà L1 không còn đất để chuyển nhượng cho ông Võ Đức T.
Cũng trong thời điểm này, ông Võ Đức T trú tổ E, ấp B, xã L cất nhà trái phép trên đất của bà N nên bà đã gửi đơn lên Ủy ban nhân dân xã L yêu cầu ông Võ Đức T trả lại đất, ngày 23/04/2015 UBND xã L hòa giải thành, nội dung hòa giải: “Ông Võ Đức T đồng ý trả lại đất theo diện tích căn nhà mà ông đã mua của ông Út E để bà N sử dụng kể từ ngày ra thông báo”. Biên bản hòa giải đã được Chủ tịch xã L ký nên việc con bà L1 là ông Út E chuyển nhượng đất của bà cho ông Võ Đức T (đất không thuộc phạm vi đất của bà Ngô Thị L1) là hoàn toàn sai, biên bản làm việc của UBND xã L, ông Võ Đức T cam kết dỡ nhà trả lại đất cho bà nhưng đến bây giờ ông T không thực hiện đúng cam kết.
Phần đất diện tích 228,6 m² bà N đã chuyển nhượng cho mẹ vợ ông T9 là bà Trần Thị Á và ông Bùi Quốc T10 trú tại ấp B, xã L, huyện K, phần diện tích còn lại hiện bà N đang tranh chấp với ông Võ Đức T.
Nguyên đơn thống nhất giá định giá theo chứng thư định giá của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên () Bất động sản Đất vàng Kiên Giang ngày 06/6/2023, không có yêu cầu định giá lại.
Nguyên đơn bà N khởi kiện yêu cầu: Buộc ông Võ Đức T dỡ căn nhà tạm trả đất lại cho bà diện tích đất 151,85m² tọa lạc ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên qua đo đạc thực tế diện tích là 117,5 m² nên bà N thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể chỉ yêu cầu cá nhân ông Võ Đức T trả lại diện tích 117,5 m² theo đo đạc thực tế.
* Bị đơn ông Võ Đức T trình bày:
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc do bà Ngô Thị L1 được giao cấp theo quyết định số 1021/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh K, sau đó bà L1 cho con là ông Út E, rồi ông Út E chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn T11 và bà Lê Ngọc S1, phần diện tích cụ thể của từng người như thế nào thì không rõ.
Sau thời gian sử dụng đất thì ông Nguyễn Văn T11 và bà Lê Ngọc S1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho ông, thời gian nào thì không nhớ rõ. Thời gian sau đó ông Út E yêu cầu nhận chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất mà ông nhận chuyển nhượng từ ông T11, bà S1.
Đến năm 2001, do có nhu cầu cần tiền thì ông Út E có yêu cầu ông mua lại toàn bộ diện tích đất trước đây ông Út E chuyển nhượng cho ông T11, bà S1 thì hai bên thống nhất chuyển nhượng với số tiền 5.000.000đ, ông đã giao đủ tiền cho ông Út E, phần đất ông nhận chuyển nhượng từ ông Út E năm 2001 cũng chính là phần đất mà hiện tại bà N tranh chấp với ông.
Ông T thừa nhận căn nhà tạm trên đất tranh chấp hiện vợ chồng ông Nguyễn Trung N2, bà Đinh Thị Ngọc G đang ở chính là nhà của ông N2, bà G mua xác nhà của người khác chứ không phải nhà của ông T cho ông N2, bà G thuê.
Ông T khẳng định phần đất đang tranh chấp đo đạc thực tế diện tích 117,5 m² chính là phần đất mà bà Ngô Thị L1 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K giao cấp theo Quyết định số 1021/QĐ-UBND ngày 08/6/2007. Ông T thống nhất giá định giá theo chứng thư định giá của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên () Bất động sản Đất vàng Kiên Giang ngày 06/6/2023, ông không có yêu cầu định giá lại.
Nay ông T không có tranh chấp gì với ông Út E trong vụ kiện này, nếu có tranh chấp về số tiền mà ông Út E chuyển nhượng 5.000.000 đồng thì sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác. Ông T khẳng định không có yêu cầu phản tố trong vụ án vì đất này ông nhận chuyển nhượng của ông Út E nên yêu cầu của bà N là không có căn cứ
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Trưởng T9 do người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Kim S trình bày:
Ngày 08/6/2007, bà Ngô Thị L1 được UBND tỉnh giao 151,85 m² đất theo Quyết định 1021/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh K, đất tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 02/3/2009 bà Trần Thị N có chuyển nhượng mua bán nền nhà ở bằng giấy tay cho ông T9 diện tích đất ngang 6m dài 22m, giá 15.000.000 đồng, lúc đó bà N đã được cấp giấy chứng nhận, sau đó cũng năm 2009 ông T9 chuyển nhượng lại cho ông Giang Văn T12 (hiện là Chủ tịch xã L), ông T9 đã đưa giấy chứng nhận cho ông T12 giữ, giá mua bán là 45.000.000 đồng, sau đó ông T12 chuyển nhượng lại cho ông Huỳnh Quốc V1.
Ngày 31/8/2012 Tòa án ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc công nhận bà Ngô Thị L1 đồng ý chuyển nhượng QSD đất cho vợ chồng ông Đoàn Trưởng T9, Trương Thị N3 diện tích 151,85 m² với giá 01 cây vàng 24kara và 4.000.000 đồng. Ông T9 đã giao đủ tiền cho bà L1 theo Quyết định Thi hành án nhưng đến nay vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận QSD đất, theo đo đạc của Thanh tra sở T13 thể hiện diện tích đất bà L1 chuyển nhượng cho ông T9 là toàn bộ diện tích đất mà bà N tranh chấp với ông T.
Bà L1 chuyển nhượng cho ông T9 toàn bộ diện tích 151,85 m² nhưng bà N và ông T chỉ tranh chấp diện tích 117,5 m² nên ông T9 yêu cầu ông Võ Đức T, bà Trần Thị N trả lại toàn bộ diện tích tranh chấp là 117,5 m² tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang, còn lại diện tích 34,35 m² bà N, ông T không tranh chấp nên không yêu cầu; Yêu cầu công nhận toàn bộ diện tích đo đạc thực tế 117,5 m² và yêu cầu vợ chồng ông bà Đinh Thị Ngọc G, ông Nguyễn Trung N2 di dời căn nhà tạm trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho ông T9.
Bà S thống nhất giá định giá theo chứng thư định giá của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên () Bất động sản Đất vàng Kiên Giang ngày 06/6/2023, không có yêu cầu định giá lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện K có văn bản trình bày ý kiến:
Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải đã xác minh cụ thể nguồn gốc đất tranh chấp. Do đó, UBND huyện đề nghị Tòa án căn cứ kết quả xác minh, đối chiếu các quy định tại Điều 100, 101 Luật đất đai năm 2013; Điều 20, 22, 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ để xem xét điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác theo quy định.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Võ Minh V, Võ Chí T4, Võ Minh P, Võ Minh C1, Võ Mộng T5, Võ Thị Mộng T6, Võ Tấn T7, Võ Thị Mộng T8, Võ Thành Đ, Võ Thị Mộng N1 (là các con của ông T) có ý kiến trình bày tại bản tự khai ngày 09/3/2023:
Việc chuyển nhượng giữa cha ruột là ông Võ Đức T với ông Lê Văn Út E thì gia đình có biết và có cất một căn nhà để ở, sinh sống. Về phần tranh chấp giữa bà Trần Thị N với ông T thì không có ý kiến, thống nhất với ý kiến của cha ruột là ông Võ Đức T. Ngoài ra không có tranh chấp, hay yêu cầu gì trong vụ án này.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Phan Thị Ánh L, Phan Văn T3, Phan Thị Thu H, Phan Văn D1 (là các con bà N) có ý kiến trình bày tại bản tự khai ngày 06/3/2023:
Phần đất tranh chấp giữa mẹ ruột là bà Trần Thị N với ông Võ Đức T là phần đất của gia đình, thống nhất giao cho mẹ ruột là bà N toàn quyền quyết định.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Văn C (con bà N) trình bày:
Mẹ ruột của ông là bà Trần Thị N có chuyển nhượng 01 cái nền cho mẹ vợ ông T9 là bà Á, sau đó bà N có cho ông T9, bà L1 ở nhờ trên đất chứ không có chuyển nhượng, bà L1 tự ý chuyển nhượng phần đất của bà N cho ông T9, nay ông C thống nhất theo yêu cầu của mẹ ruột là bà Trần Thị N.
Ông C thống nhất giá định giá theo chứng thư định giá của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên () Bất động sản Đất vàng Kiên Giang ngày 06/6/2023, không có yêu cầu định giá lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N3 có ý kiến trình bày tại bản tự khai ngày 06/4/2023:
Bà thống nhất với yêu cầu của ông Đoàn Trưởng T9 vì phần đất này ông T9 nhận chuyển nhượng của bà Ngô Thị L1, bà thống nhất cho ông T9 đại diện bà quyết định mọi vấn đề trong vụ kiện.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung N2, bà Đinh Thị Ngọc Giàu C2 ý kiên trình bày tại bản tự khai ngày 01/3/2023 và 15/3/2023:
Ông bà có ở trên phần đất tranh chấp giữa bà N với ông T, nếu Tòa án xét xử giao đất cho ai thì ông bà thống nhất di dời, không có yêu cầu bồi thường hay tranh chấp gì trong vụ án này.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc H1 có ý kiến trình bày tại bản tự khai ngày 01/3/2023:
Ông Lê Văn Út E là chồng bà H1, việc ông Út E có chuyển nhượng đất cho ông Võ Đức T thì bà không biết, bà không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2023/DS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N về việc yêu cầu bị đơn ông Võ Đức T trả lại diện tích đất đo đạc thực tế là 117,5 m² tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Trưởng T9 về việc yêu cầu nguyên đơn bà Trần Thị N, bị đơn ông Võ Đức T trả lại diện tích đất đo đạc thực tế là 117,5 m² tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Buộc nguyên đơn bà Trần Thị N, bị đơn ông Võ Đức T trả lại diện tích đất 117,5 m² tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang cho ông Đoàn Trưởng T9 quản lý, sử dụng.
Vị trí diện tích 117,5 m² theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 64-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K ngày 23/5/2022 gồm các cạnh 1,2,3,4 trong đó cạnh 1-2=9,94m giáp đất Ủy ban nhân dân xã L quản lý (B), 2-3= 13,53m giáp đất Đinh Văn B; 3-4=7,61m giáp đất Đoàn T; 4-1= 13,40m giáp đất Nguyễn Thị M.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Trưởng T9 về việc yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Trung N2, bà Đinh Thị Ngọc G di dời toàn bộ căn nhà tạm trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho ông Đoàn Trưởng T9.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Trung N2, bà Đinh Thị Ngọc G di dời toàn bộ căn nhà tạm để trả lại quyền sử dụng đất cho ông Đoàn Trưởng T9
Căn nhà tạm kết cấu: Móng đá hộc 20 x 50 (cm), khung + cột: cây, nền láng xi măng, vách tôn sóng tròn, cửa đi khung gỗ + tôn, đòn tay gỗ, mái tôn sóng vuông nằm trong diện tích 117,5 m2 theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 64-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K ngày 23/5/2022 gồm các cạnh 1,2,3,4 trong đó cạnh 1-2=9,94m giáp đất Ủy ban nhân dân xã L quản lý (B), 2-3= 13,53m giáp đất Đinh Văn B; 3-4=7,61m giáp đất Đoàn T; 4-1= 13,40m giáp đất Nguyễn Thị M.
Thời hạn cho ông Nguyễn Trung N2, bà Đinh Thị Ngọc G tháo dỡ, di dời vật kiến trúc trên đất là 30 ngày kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Ông Đoàn Trưởng T9 có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 117,5 m² theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 64-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K ngày 23/5/2022 gồm các cạnh 1,2,3,4 trong đó cạnh 1-2=9,94m giáp đất Ủy ban nhân dân xã L quản lý (B), 2-3= 13,53m giáp đất Đinh Văn B; 3-4=7,61m giáp đất Đoàn T; 4-1= 13,40m giáp đất Nguyễn Thị M.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định.
* Ngày 27/12/2023, bị đơn ông Võ Đức T kháng cáo với nội dung: Yêu cầu mời ông Lê Văn Ú Em lên Tòa để giải quyết vụ việc và công nhận phần đất ông T đã chuyển nhượng với ông Lê Văn Út E là hợp pháp.
* Ngày 02/01/2024, nguyên đơn bà Trần Thị N kháng cáo với nội dung: Yêu cầu xác minh đồng thời đo đạc lại toàn bộ phần đất của cha bà N để lại cho bà N, kể cả phần đất đã giao cho bà Ngô Thị L1; yêu cầu mời ông T và ông T9 đối chất.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Trần Thị N xin rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
- Bị đơn ông Võ Đức T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và những người tham gia tố tụng trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị N; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Võ Đức T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2023/DS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tranh luận của Luật sư, đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử theo quy định.
- Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị N: Nguyên đơn bà Trần Thị N xin rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị N xin rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Từ những căn cứ nhận định trên, trong thảo luận nghị án Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị N.
- Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Võ Đức T kháng cáo với nội dung: Yêu cầu mời ông Lê Văn Ú Em lên Tòa để giải quyết vụ việc. Đồng thời công nhận phần đất ông T đã chuyển nhượng với ông Lê Văn Út E là hợp pháp.
- Xét yêu cầu khửi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N.
Hội đồng xét xử nhận định:
Về nguồn gốc phần đất đang tranh chấp diện tích đo đạc thực tế 117,5m² là của bà Ngô Thị L1 được Ủy ban nhân dân tỉnh K giao diện tích 151,85 m² đất theo Quyết định 1021/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K ngày 08/6/2007, các đương sự không tranh chấp toàn bộ diện tích 151,85m²mà chỉ tranh chấp diện tích 117,5m². Ngày 09/5/2007, bà Trần Thị N được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 554088 diện tích 438,1 m² tọa lạc ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Sau đó, bà N chuyển nhượng cho ông Huỳnh Quốc V1 trú ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang tổng diện tích 228,6m² (trong đó chuyển nhượng lần 1 diện tích 139,2m²; chuyển nhượng lần 2 diện tích 89,4m² và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký huyện K chỉnh lý biến động lần lượt các ngày 10/6/2010 và ngày 19/6/2017.
Ngày 22/8/2019, bà Trần Thị N chuyển nhượng cho ông Bùi Quốc T10 trú ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang diện tích còn lại 209, m², các bên có lập hợp đồng chuyển nhượng được Ủy ban nhân dân xã L, huyện K chứng thực số 01 ngày 22/8/2019. Ngày 27/6/2023 Tòa án tiến hành lấy lời khai bà Trần Thị N thì bà N thừa nhận bà có chuyển nhượng diện tích 228,6m² trong tổng diện tích 438,1m² đất bà được cấp tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang cho ông Đoàn Trưởng T9, ông T9 mới chuyển nhượng lại cho ông Giang Văn T12, ông T12 chuyển nhượng lại cho ông Huỳnh Quốc V1 nhưng thủ tục ký sang tên thì bà trực tiếp ký sang tên từ tên bà qua ông Huỳnh Quốc V1. Diện tích còn lại 209,5m² bà chuyển nhượng cho ông Bùi Quốc T10 từ năm 2009 giá 17.000.000 đồng, bà đã nhận đủ tiền và bàn giao đất, gia đình ông T10 đã cất nhà ở trên đất từ 2009 đến nay.
Như vậy, bà Trần Thị N được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 554088 diện tích 438,1m² tọa lạc ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang nhưng bà đã chuyển nhượng toàn bộ cho ông Huỳnh Quốc V1 diện tích 228,6m² và ông Bùi Quốc T10 diện tích 209,5m² nên bà N không còn diện tích đất theo Giấy chứng nhận được cấp. Mặt khác, vị trí diện tích 438,1m² bà N được UBND huyện K cấp nằm vị trí khác so với vị trí đất tranh chấp diện tích 117,5m² tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Bà Trần Thị N cho rằng, ngày 23/4/2015 Ủy ban nhân dân xã L, huyện K có ban hành Thông báo số 19/HĐHGTCĐĐ về việc hòa giải thành nội dung ông T đồng ý trả lại đất theo diện tích căn nhà mà ông T đã mua của ông Út E để bà N sử dụng, tuy nhiên nội dung thông báo không thể hiện diện tích cụ thể, vị trí căn nhà ở đâu nên không xác định được việc ông T đồng ý trả lại đất theo diện tích căn nhà mà ông T đã mua của ông Út E để bà N sử dụng nằm ở vị trí nào. Tại biên bản ghi lời khai ông Đặng Tùng L2 (nguyên chủ tịch UBND xã L, huyện K) cho biết nội dung hòa giải là ông T thừa nhận có việc ông Lê Văn Út E lấy đất của bà Ngô Thị L1 bán cho ông T nhưng đã chuyển nhượng lấn sang phần đất bà N chuyển nhượng cho ông Đoàn Trưởng T9 nên ông T thống nhất trả lại phần đất cho bà N, vị trí đất ông T đồng ý trả lại đất cho bà N là giáp đất bà Ngô Thị L1 được UBND tỉnh giải quyết giao cho bà L1 diện tích 151,85m² theo Quyết định số 1021/QĐ-UBND ngày 08/6/2007 mà ông Út E (con bà L1) chuyển nhượng cho ông T có lấn qua đất của bà N đã chuyển nhượng cho ông Đoàn Trưởng T9 (phần đất này hiện bà Nguyễn Thị M đang sử dụng).
Từ những căn cứ nhận định trên, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
- Xét yêu cầu độc lập của ông Đoàn Trưởng T9 yêu cầu ông Võ Đức T, bà Trần Thị N trả lại toàn bộ diện tích đất đo đạc thực tế 117,5m² tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang; yêu cầu công nhận toàn bộ diện tích đo đạc thực tế 117,5m² cho ông và yêu cầu vợ chồng bà Đinh Thị Ngọc G, ông Nguyễn Trung N2 di dời căn nhà tạm trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho ông T9.
Hội đồng xét xử nhận định:
Ngày 31/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 04/2012/QÐST-DS giữa bà Ngô Thị L1 với ông Đoàn Trưởng T9 nội dung như sau: về đất, bà Ngô Thị L1 đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Đoàn Trưởng T9, bà Trương Thị N3 với diện tích 151,85m² tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang với giá 01 cây vàng 24kara và 4.000.000 đồng.
Ngày 05/5/2014, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Hải ban hành Quyết định Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 01/QĐ-CCTHA của ông Đoàn Trưởng T9. Ngày 06/6/2016 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Hải lập biên bản về việc giải quyết việc thi hành án với nội dung: Số tiền thi hành án trả nợ bà Ngô Thị L1 là 4.000.000 đồng và 10 chỉ (01 cây) vàng 24 kara cùng số tiền chi phí cưỡng chế là 10.610.000 đồng, ông T9 tự nguyện nộp đầy đủ xem như việc thi hành án đã xong. Căn cứ Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 04/2012/QÐST-DS giữa bà Ngô Thị L1 với ông Đoàn Trưởng T9 đã có hiệu lực pháp luật, ông T9 đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ của người phải thi hành án nên căn cứ khoản 2 Điều 170 Bộ luật dân sự năm 2005 tương ứng khoản 2 Điều 221 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 5 điều 49 Luật đất đai năm 2003 tương ứng điểm d khoản 1 Điều 99 Luật đất đai năm 2013 ông T9 đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Qua đo đạc thực tế diện tích đất 117,5m²tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 64-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K đúng vị trí đất bà Ngô Thị L1 được Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp theo Quyết định số 1021/QĐ-UBND ngày 08/6/2007, đến ngày 31/8/2012 bà L1 đồng ý chuyển nhượng cho ông Đoàn Trưởng T9 theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 04/2012/QÐST-DS.
Từ những căn cứ nhận định trên, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đoàn Trưởng T9 là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
- Xét ý kiến trình bày của bị đơn ông Võ Đức T.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị đơn ông Võ Đức T cho rằng, phần đất tranh chấp là của ông nhận chuyển nhượng của ông Út E diện tích 117,5m² tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang đang tranh chấp từ ông Lê Văn Út E (con ruột bà L1) vào năm 2001, phần đất này ông Út E được bà L1 tặng cho, ông T thừa nhận diện tích tranh chấp 117,5m² nằm trong diện tích bà Ngô Thị L1 được giao cấp theo Quyết định 1021/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K ngày 08/6/2007. Sau đó bà L1 tặng cho con ruột là Lê Văn Út E và ông Út E chuyển nhượng lại cho ông giá 5.000.000 đồng vào năm 2001, hiện tại ông Út E không rõ địa chỉ ở đâu, ông T cũng không biết ông Út E ở đâu nên không thể cho các bên đối chất để làm rõ việc chuyển nhượng của các bên.
Xét thấy, bà L1 được giao cấp đất năm 2007, nhưng ông T khai bà L1 tặng cho đất cho ông Lê Văn Út E năm 2001 là không phù hợp, các bên làm đơn sang nhượng đất chưa thể hiện vị trí cụ thể như thế nào. Mặc khác, tại biên bản ghi lời khai ngày 19/7/2019 (BL 251, 252, 253) bà L1 khai bà không biết việc chuyển nhượng giữa ông Út E với ông T, bà chỉ cho ông Út E ở chứ không có cho chuyển nhượng người khác.
Trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bị đơn ông Võ Đức T xác định, ông T không có yêu cầu phản tố và cũng không có yêu cầu khởi kiện nào đối với ông Út E.
Cấp sơ thẩm nhận định, nếu có tranh chấp thì ông Võ Đức T có quyền khởi kiện ông Lê Văn Út E để đòi lại số tiền chuyển nhượng trong vụ kiện dân sự khác là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Từ những căn cứ nhận định trên, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị N; không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Võ Đức T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2023/DS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.
- Xét yêu cầu khửi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N.
- Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng bà N là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên bà N không phải chịu án phí.
- Bị đơn ông Võ Đức T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng do ông T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông T không phải chịu án phí.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Trần Thị N là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Bị đơn ông Võ Đức T là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí tố tụng khác
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Buộc nguyên đơn bà Trần Thị N phải chịu chi phí bản vẽ là 745.500 đồng theo hóa đơn GTGT số 0000211 ngày 26/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Kiên Giang và chi phí trích lục hồ sơ là 500.000 đồng, tổng cộng là 1.245.000 đồng, bà N đã nộp đủ.
- Về chi phí định giá tài sản:
Buộc nguyên đơn bà Trần Thị N phải chịu số tiền định giá tài sản là 18.000.000 đồng theo hóa đơn số 00000029 ngày 09/6/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên B1, bà N đã nộp đủ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị N; không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Võ Đức T.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2023/DS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng Điều 170 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 221 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 49 Luật đất đai năm 2003; các Điều 99, Điều 100 và Điều 101 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N về việc yêu cầu bị đơn ông Võ Đức T trả lại diện tích đất đo đạc thực tế là 117,5m² đất tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Trưởng T9 về việc yêu cầu nguyên đơn bà Trần Thị N và bị đơn ông Võ Đức T trả lại diện tích đất đo đạc thực tế là 117,5m² đất tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Buộc nguyên đơn bà Trần Thị N và bị đơn ông Võ Đức T trả lại cho ông Đoàn Trưởng T9 quản lý, sử dụng diện tích đất 117,5m² đất tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Diện tích đất 117,5m² theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 64-2022 ngày 23/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Kiên Giang có vị trí và số đo cụ thể:
- + Cạnh 1 - 2 = 9,94m giáp đất Ủy ban nhân dân xã L quản lý (Bãi Cát);
- + Cạnh 2 - 3 = 13,53m giáp đất Đinh Văn B;
- + Cạnh 3 - 4 = 7,61m giáp đất Đoàn Trưởng Thành;
- + Cạnh 4 - 1= 13,40m giáp đất Nguyễn Thị M.
- Buộc người có quyền lọi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Nguyễn Trung N2 và bà Đinh Thị Ngọc G di dời toàn bộ căn nhà tạm trên diện tích đất tranh chấp để giao trả lại quyền sử dụng đất cho ông Đoàn Trưởng T9 quản lý, sử dụng.
Căn nhà tạm kết cấu: Móng đá hộc 20 x 50 (cm), khung + cột: cây, nền láng xi măng, vách tôn sóng tròn, cửa đi khung gỗ + tôn, đòn tay gỗ, mái tôn sóng vuông nằm trong diện tích 117,5 m² theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 64-2022 ngày 23/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Kiên Giang có vị trí và số đo cụ thể:
- + Cạnh 1 - 2 = 9,94m giáp đất Ủy ban nhân dân xã L quản lý (Bãi Cát);
- + Cạnh 2 - 3 = 13,53m giáp đất Đinh Văn B;
- + Cạnh 3 - 4 = 7,61m giáp đất Đoàn Trưởng Thành;
- + Cạnh 4 - 1= 13,40m giáp đất Nguyễn Thị M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Nguyễn Trung N2 và bà Đinh Thị Ngọc G được quyền lưu cư trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Trưởng T9 có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 117,5m² theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 64-2022 ngày 23/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Kiên Giang gồm các cạnh 1,2,3,4 trong đó cạnh 1-2=9,94m giáp đất Ủy ban nhân dân xã L quản lý (B), cạnh 2-3= 13,53m giáp đất Đinh Văn B; cạnh 3-4=7,61m giáp đất Đoàn T; cạnh 4-1= 13,40m giáp đất Nguyễn Thị M theo quy định pháp luật về đất đai.
- Buộc nguyên đơn bà Trần Thị N và bị đơn ông Võ Đức T trả lại cho ông Đoàn Trưởng T9 quản lý, sử dụng diện tích đất 117,5m² đất tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng bà N là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên bà N không phải chịu án phí.
- Bị đơn ông Võ Đức T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng do ông T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông T không phải chịu án phí.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Trần Thị N là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Bị đơn ông Võ Đức T là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí tố tụng khác
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Buộc nguyên đơn bà Trần Thị N phải chịu chi phí bản vẽ là 745.500 đồng theo hóa đơn GTGT số 0000211 ngày 26/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Kiên Giang và chi phí trích lục hồ sơ là 500.000 đồng, tổng cộng là 1.245.000 đồng, bà N đã nộp đủ.
- Về chi phí định giá tài sản:
Buộc nguyên đơn bà Trần Thị N phải chịu số tiền định giá tài sản là 18.000.000 đồng theo hóa đơn số 00000029 ngày 09/6/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên B1, bà N đã nộp đủ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Bình Đảo |
Bản án số 258/2024/DS-PT ngày 03/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 258/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà N tranh chấp QSDĐ với ông T
