Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 258/2024/HS-ST

Ngày: 03/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân:

  1. 1. Ông Lê Văn Tú
  2. 2. Bà Dương Thị Phương

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 07 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 259/2024/HSST ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 275/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và “Quyết định hoãn phiên toà" số 88/HSST-QĐ ngày 19/6/2024 đối với:

Bị cáo Huỳnh Danh T, sinh ngày 27/4/2006; Giới tính: Nam

Nơi thường trú và chỗ ở: Số nhà B T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Huỳnh Tấn M, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1983; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ: chưa; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)

Người bị hại: Anh Cao Văn M1, sinh ngày 25/02/2005

Trú tại: S T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thanh V - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thuộc Sở tư pháp Thanh Hoá. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 11/4/2023, Huỳnh Danh T cùng Phan Trọng H1, sinh ngày 06/10/2005 (Trú tại 0 L, phường Đ, thành phố T), Nguyễn Đức A, sinh ngày 13/7/2006 (Trú tại 0 N, phường Đ, thành phố T) đang chơi trong phòng ngủ tầng 2 nhà Ngô Thế A1, sinh ngày 29/9/2023 (địa chỉ: Số C T, phương Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) thì Cao Văn M1, sinh ngày 25/02/2005 (Trú tại 0 T, phường Đ, thành phố T) đến chơi.

Do trước đó M1 và T có mâu thuẫn về việc M1 nói xấu bạn gái của T nên giữa T và M1 xảy ra xô xát. M1 đẩy T ngã va vào bể cá bằng kính để trong phòng làm vỡ bể cá. Được mọi người can ngăn thì hai bên không đánh nhau nữa, nhưng vẫn tiếp tục có lời lẽ thách thức nhau.

Khi T, H1, Thế A1 đang nhặt dọn các mảnh kính vỡ của bể cá, thì M1 xông vào dùng tay đấm T nhưng không trúng. T đứng lên, tay phải đấm M1 02 cái, tay trái đang cầm 01 mảnh kính vỡ, kích thước khoảng (3x6)cm đấm 01 phát trúng vào vùng cổ, gần góc hàm phải của M1 gây thương tích chảy máu phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T

Tại “Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể” Cao Văn M1: 01 vết thương vùng cổ, gần góc hàm phải, kích thước (4x5)cm, chảy nhiều máu, phun thành tia

Tại “Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể” Huỳnh Duy T1: 01 vết rách da tại giữa, đuôi của mặt trong ngón áp út và ngón giữa bàn tay trái, kích thước (0,5x01)cm, bờ mép sắc gọn; 01 vết rách da tại giữa lòng bàn tay trái, kích thước (0,2x0,2)cm, bở mép sắc gọn; 01 vết rách da tại mặt trong, giữa đốt ngón tay giữa bàn tay trái, kích thước (0,5x0,2)cm, bờ mép sắc gọn; 02 vết rách da ở giữa khe ngón cái và ngón trỏ trái, ở mặt trong bàn tay trái, kích thước mỗi vết (0,2x0,2)cm, bờ mép sắc gọn; 01 vết thương rách da trên mu bàn chân trái, kích thước (01x1,5)cm bở mép sắc gọn; sưng tấy đỏ tại đốt 1 ngón út và mu bàn tay phải.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 884/KLTTCT-PYTH, ngày 08/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Cao Văn M1 tại thời điểm giám định là 35%.

Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 885/KLVGTT-PYTH, ngày 13/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Vết thương vùng cổ, gần góc hàm phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương đứt động mạch mặt và động mạch cảnh ngoài, rách tĩnh mạch cảnh trong, đứt tuyến dưới hàm, đã được điều trị, hiện tại còn di chứng sẹo vết thương và sẹo xử lý vết thương vùng cổ gần góc hàm phải. Tại thời điểm giảm định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.

Ngày 12/4/2023 Huỳnh Danh T đến Công an phường Đ đầu thú. Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng vụ án: Hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa các mảnh kính vỡ, có hình dạng, kích thước khác nhau thu giữ tại hiện trường.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với thương tích của Huỳnh Danh T: Do vết thương nhẹ, không phải đi điều trị tại cơ sở y tế, T từ chối giám định và không yêu cầu khởi tố nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với hành vi gây thương tích cho T của Cao Văn M1.

Đối với Cao Văn M1 có hành vi đánh nhau. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Cáo trạng số 188/CT-VKS ngày 10/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố Huỳnh Danh T về tội “Cố ý gây thương tích" theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; Điều 54; Điều 91, Điều 101; Điều 38 - Bộ luật hình sự; Xử phạt Huỳnh Danh T từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; Về bồi thường dân sự: Bị cáo và người bị hại đã thoả thuận bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét; Về án phí buộc bị cáo chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với đề nghị của VKS về tội danh; Về hình phạt đề nghị HĐXX xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo; Đã bồi thường cho người bị hại; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo đầu thú; Đây là lần đầu bị cáo phạm tội; Thời điểm phạm tội bị cáo chưa thành niên; Bị cáo có nhân thân tốt. Vì vậy đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất trong mức đề nghị của VKS để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật và đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 11/4/2023 tại số nhà C T, phường Đ, thành phố T; Do có mâu thuẫn cá nhân từ trước nên Huỳnh Danh T và Cao Văn M1 đã xảy ra xô xát, đánh nhau. Huỳnh Danh T đã cầm mảnh kính vỡ, kích thước khoảng (3x6)cm đấm 01 phát trúng vào cổ, gần góc hàm phải của Cao Văn M1 gây thương tích. Hậu quả M1 bị tổn hại 35% sức khỏe.

Hành vi của bị cáo Huỳnh Danh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Mặc dù tổn thương cơ thể của anh Cao Văn M1 là 35%, song bị cáo đã dùng mảnh thủy tinh vỡ để gây thương tích cho anh M1. Mảnh thủy tinh bị cáo dùng để gây thương tích cho anh M1 được xác định là hung khí nguy hiểm (Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục II phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao và tiểu mục 3.1 mục I Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao). Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Huỳnh Danh T đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ từ trước nên khi gặp nhau giữa bị cáo và anh M1 đã xảy ra xô xát, đánh nhau làm vỡ bể cá cảnh. Khi bị cáo đang dọn mảnh thuỷ tinh của bể cá vỡ, hai bên lại tiếp tục đánh nhau, bị cáo đã dùng mảnh thủy tinh vỡ đâm anh M1, dẫn đến anh M1 tổn hại 35% sức khỏe. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và để phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo đầu thú. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo có nhân thân tốt; Hành động của bị cáo là bột phát và có 1 phần lỗi của người bị hại.

Ở thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa thành niên (16 năm 11 tháng 14 ngày tuổi) do đó bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất đồng thời không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định theo quy định tại Điều 91, 101 – BLHS. Vì vậy để bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi phạm tội, chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội theo nội dung Điều 91 BLHS, HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và áp dụng Điều 54-BLHS quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về vật chứng vụ án: Mảnh thủy tinh bị cáo sử dụng gây thương tích cho anh Cao Văn M1 là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luạt TTHS

[5] Về bồi thường dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự nên HĐXX không xét.

[6] Đối với thương tích của Huỳnh Danh T: Thái từ chối giám định và không yêu cầu khởi tố nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với hành vi gây thương tích cho T của Cao Văn M1. Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính đối với Cao Van M2 là đúng quy định pháp luật.

[7] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • - Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Danh T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  • - Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Danh T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • - Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy: Một hộp giấy catton được nhiệm phong, có hình dấu của Công an phường Đ, kèm các chữ ký, chữ viết của Tạ Quang M3, Nguyễn Thị H2, Vũ Văn D. Theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, bên trong có chứa các mảnh kính vỡ có hình dạng, kích thước khác nhau. Vật chứng hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP., tỉnh Thanh Hóa theo “Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản” số 158/2024/THA ngày 27/5/2024 giữa Công an T và Chi cục Thi hành án dân sự TP ..
  • - Về bồi thường dân sự: Người bị hại không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Huỳnh Danh T phải chịu 200.000đ án phí HSST.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Huỳnh Danh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại Cao Văn M1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Thanh Hóa;
  • - Người bị hại;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an thành phố thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS thành phố Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 258/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Danh T (cố ý gây TT)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger