Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 258/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/6/2025

Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai

Bà Ngô Thị Yêm

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Lê Thanh - Kiểm sát viên.Ngày 20/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 584/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:-

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vân A – Sinh năm 1997; Nơi thường trú và nơi ở: Thôn L, xã N, huyện Tiên L, tỉnh H. Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 10/5/2021. (Có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh C – Sinh năm 1993; Nơi thường trú: Thôn M, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 01/05/2021. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Vân A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Mạnh C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Vợ chồng anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 22/6/2022. Sau khi kết hôn anh chị sống chung với bố mẹ đẻ anh C tại thôn M, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chị sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh C thường xuyên sử dụng rượu bia, tham gia cờ bạc và đánh đập, ngược đãi chị. Vợ chồng chị mâu thuẫn căng thẳng nhất vào ngày 20 tháng 10 năm 2023 khi anh C tiếp tục đánh đập chị, ông Q là bố đẻ anh C biết việc này nhưng không hề ngăn cản thậm chí còn đuổi chị ra khỏi nhà. Do không chịu được nên cùng thời điểm đó chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên sinh sống. Sau khi chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ thì anh C chưa lần nào đến xin lỗi hoặc nói chuyện để đón chị về cùng chung sống nên vợ chồng chị vẫn ly thân từ đó đến nay. Gia đình hai bên đã nói chuyện hòa giải nhưng không thành. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị ly hôn với anh C để sớm ổn định cuộc sống. Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung là cháu Nguyễn Tuệ A, sinh ngày 07/04/2023. Ngoài ra vợ chồng anh chị không có con chung, con riêng hay con nuôi nào khác. Chị hiện không có thai. Hiện nay, cháu A đang sống với chị, sức khỏe của cháu tốt. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tuệ A và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công sức và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản chung, nợ chung và công sức chung của vợ chồng. Đối với bị đơn là anh Nguyễn Mạnh C: Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh C vắng mặt. Tiến hành các thủ tục xác minh tại nơi cư trú xác định: Anh Nguyễn Mạnh C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Theo ông Nguyễn Mạnh Q là bố đẻ anh C cung cấp: Sau khi anh C và chị Vân A ly thân được khoảng 1 năm thì anh C đi lao động tại Niu Di-lân. Tòa án đã gửi công văn đến Phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Công an thành phố Hà Nội để xác minh thông tin và được biết: anh Nguyễn Mạnh C xuất cảnh lần cuối vào ngày 29/11/2024 qua cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài, chưa có thông tin nhập cảnh. Tòa án đã có công văn hỏi Cục Lãnh sự về nơi cư trú của anh C tại nước ngoài, tuy nhiên, tại công văn: 1999/LS-QHLS của Cục Lãnh sự trả lời về việc không cung cấp được thông tin nơi cư trú của anh Nguyễn Mạnh C ở nước ngoài. Vì vậy, anh Nguyễn Mạnh C thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ và nơi cư trú cuối cùng của anh C là tại thôn M, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Mạnh C tại nơi anh C đăng ký Hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng anh C không liên hệ với Tòa án và cũng không có ý kiến phản hồi về các yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Vân A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; Tòa án đã xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; Tòa án đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Phiên tòa diễn ra công khai, dân chủ, đề cập đến mọi vấn đề phải giải quyết trong vụ án.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật HNGĐ 2014; NQ 326/2016 ngày 30/6/2016 của UBTV Quốc hội. Đề nghị Toà án xét xử :

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xử cho chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh C.
  • Về con chung: Giao cho chị Vân A trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung khi ly hôn là có căn cứ chấp nhận.
  • Về án phí: Chị Vân A phải nộp 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Vân A yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật dân sự.

Bị đơn là anh Nguyễn Mạnh C, theo công văn số 823/QLXNC-QLXC ngày 16/01/2025 của phòng Quản lý xuất nhập cảnh – Công an thành phố Hà Nội thì anh C xuất cảnh lần cuối ngày 29/11/2024 (sau khi Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý vụ án). Xác minh tại Cục lãnh sự Bộ Ngoại Giao thể hiện: không cung cấp được thông tin nơi cư trú của anh Nguyễn Mạnh C ở nước ngoài. Vì vậy, anh Nguyễn Mạnh C thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Anh Nguyễn Mạnh C có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại địa bàn huyện Đ, như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử và tranh tụng tại phiên toà: Ngày 28/5/2025, bị đơn là anh C vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa xét xử vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Đây là phiên tòa xét xử lần 2, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, dành quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung :

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Vân A và anh Nguyễn Mạnh C tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 22/6/2022 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với nhau cùng với bố mẹ anh C tại thôn M, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Qua lời khai của chị Vân A: Chị Vân A và anh C chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh C, chị Vân A không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau, anh C thường xuyên sử dụng rượu bia, tham gia cờ bạc và đánh đập, ngược đãi chị. Theo ý kiến của ông Nguyễn Văn Q là bố đẻ của anh C cung cấp: Quá trình chung sống vợ chồng thì giữa anh C và chị Vân A xảy ra mâu thuẫn do bất động quan điểm sống. Có lần anh C uống rượu về nhà và vợ chồng có xảy ra đánh cãi nhau. Qua xác minh tại địa phương nơi anh chị sinh sống được địa phương cung cấp: vợ chồng anh chị quá trính chung sống nảy sinh mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Từ tháng 10/2023 chị Vân A đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định giữa chị Vân A và anh C mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Gia đình hai bên cũng đã nói chuyện để hòa giải nhưng không thành. Chị Vân A và anh C đã sống riêng từ khoảng tháng 10/2023 cho đến nay. Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vân A theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Vân A và anh C có 01 con chung là cháu Nguyễn Tuệ A – Sinh ngày 07/04/2023. Ngoài ra vợ chồng anh chị không có con chung, con riêng hay con nuôi nào khác. Chị Vân A không có thai trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Hiện nay, cháu A đang sống với chị Vân A, sức khỏe của cháu tốt. Anh C không thể hiện ý kiến đối với việc nuôi dưỡng con chung sau ly hôn và không xác định được nơi sinh sống của anh C. Cháu Tuệ A còn nhỏ chưa được 36 tháng tuổi. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung chưa thành niên nên cần chấp nhập yêu cầu của chị Nguyễn Thị Vân A về việc được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tuệ A sau khi anh chị ly hôn.

Về vấn đề cấp dưỡng: Chị Vân A không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[2.3] Về tài sản chung: Chị Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản chung vợ chồng. Do đó, Tòa án không giải quyết về vấn đề tài sản chung của vợ chồng.

[2.4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vân A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Vân A với anh Nguyễn Mạnh C. Chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn anh Nguyễn Mạnh C.
  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Vân A với anh Nguyễn Mạnh C có 01 con chung là: cháu Nguyễn Tuệ A – Sinh ngày 07/04/2023. Khi ly hôn, Giao cháu A cho chị Nguyễn Thị Vân A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên, có khả năng tự lập về kinh tế hoặc có sự thay đổi khác. Về vấn đề cấp dưỡng sẽ được giải quyết khi có yêu cầu.

Anh Nguyễn Mạnh C có quyền và nghĩa vụ thăm và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  1. Về tài sản của vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Vân A phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/23số 0071419 ngày 16/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Vân A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Mạnh C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND huyện Đông Anh; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;

- Chi cục THA huyện Đông Anh;-

UBND xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội (GCN kết hôn số 28 ngày 22/6/2022);

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 258/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Vân A ly hôn với anh Nguyễn Mạnh C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger