Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 258/2025/DS-ST

Ngày: 12/3/2025

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Khắc Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Hương;
  • 2. Ông Phạm Bá Chương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Quân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 1423/2024/DSST ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 865/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Viết Cẩm V, Sinh năm: 1987

Địa chỉ: C Vinhomes Central Park G Đ, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện ủy quyền: Phan Thị Vân A, sinh năm 2001; Địa chỉ: B, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978

Địa chỉ: A T, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị Diệu Y, sinh năm 1996
  • Địa chỉ: A T, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Viết Đ, sinh năm 1983
  • Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Định. Đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Văn phòng C
  • Trụ sở: 278 đường Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1959. Đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng của nguyên đơn xác định:

Bà Nguyễn Viết Cẩm V là chủ sử dụng hợp pháp đối với hai thửa đất có thông tin như sau:

  • + Thửa đất số: 512, 544, 545, tờ bản đồ số: 33, địa chỉ: Phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 016797; Số vào sổ cấp GCN: CH 02192 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/8/2014;
  • + Thửa đất số: 1353, tờ bản đồ số: 33, địa chỉ: Phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 688529; Số vào sổ cấp GCN: CH 08420 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/8/2019.

Khi có nhu cầu chuyển nhượng hai thửa đất trên, bà V có liên hệ với bên môi giới và biết bên mua là ông Nguyễn Văn H và người nhà của ông H là bà Nguyễn Thị Diệu Y (cháu ông H số điện thoại 0979.101.xxx). Quá trình liên lạc, hai bên thống nhất giá trị chuyển nhượng 02 thửa đất là 90.000.000.000 (Chín mươi tỷ) đồng, số tiền đặt cọc là 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng, bên ông H sẽ liên hệ với bên Văn phòng C soạn hợp đồng để ngày 08/7/2024 ký hợp đồng đặt cọc.

Do bận công việc nên trước đó bà V có lập hợp đồng ủy quyền cho ông Nguyễn Viết Đ làm đại diện ký hợp đồng đặt cọc với bên mua đối với hai thửa đất nêu trên theo Hợp đồng ủy quyền ngày 18/01/2024.

Ngày 08/7/2024, H1 bên có ký Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng số 6886 tại Văn phòng C để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nêu trên. Theo hợp đồng đặt cọc ngày 08/7/2024, hai bên có thỏa thuận trường hợp ông H không tiếp tục nhận chuyển quyền sử dụng đất thì ông H sẽ mất số tiền đặt cọc nêu trên cho bà V. Ngược lại, trường hợp bà V không chịu chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên cho ông H thì phải hoàn trả số tiền đặt cọc lại cho ông H, đồng thời phải bồi thường bằng số tiền đặt cọc. Hạn cuối để hai bên thực hiện ký kết Hợp đồng chuyển nhượng tại cơ quan công chứng có thẩm quyền đối với hai thửa đất nêu trên là chậm nhất đến hết ngày 27/8/2024. Thực hiện thỏa thuận, ông H đã chuyển đủ số tiền cọc 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng vào tài khoản của bà V, hai bên có viết giấy giao nhận đủ tiền cọc ngày 08/7/2024

Về bản thảo của Hợp đồng chuyển nhượng thì bên phía ông H vẫn là người liên lạc với Văn phòng công chứng để soạn thảo trước. Nhưng đến hết ngày 26/8/2024 thì bên bà V vẫn không nhận được bất kỳ thông tin nào của ông H liên quan đến bản thảo của hợp đồng chuyển nhượng, bà V có nhắn tin trao đổi với đại diện bên ông H là bà Y để hẹn đến ngày 27/8/2024 tới Văn phòng công chứng để thực hiện ký Hợp đồng chuyển nhượng như đã thỏa thuận tại Hợp đồng đặt cọc ngày 08/7/2024. Tuy nhiên, bà Y báo ông H không được ngân hàng giải ngân kịp và xin trễ thêm vài ngày nhưng không được bà V đồng ý.

Bà V có liên hệ tới Văn phòng C để đợi ông H nhưng ông H không tới để thực hiện ký Hợp đồng chuyển nhượng như đã thỏa thuận (sự việc có được lập vi bằng). Đồng thời, bà Y có nhắn tin xin gia hạn thêm 2-3 ngày để chuẩn bị đủ số tiền chuyển nhượng. Cùng ngày 27/8/2024, bà V đã tiến hành giao thông báo đến ông H về việc đồng ý gia hạn việc thực hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng chính thức vào khoảng 09 đến 10 giờ sáng ngày 30/8/2024 tại Văn phòng C, địa chỉ tại: B Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Việc gửi thông báo có được lập vi bằng).

Đồng thời, trong ngày 27/8/2024, bà V có ký Hợp đồng ủy quyền cho ông Nguyễn Viết Đ tới Văn phòng C tại địa chỉ: B Đ, Phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để cùng ông H ký kết Hợp đồng chuyển nhượng đối với hai thửa đất nêu trên theo như nội dung đã thông báo cho ông H.

Ngày 30/8/2024, ông Nguyễn Viết Đ có ra Văn phòng C để ký kết Hợp đồng chuyển nhượng đối với hai thửa đất nêu trên và có đề nghị Văn phòng công chứng soạn dự thảo Hợp đồng chuyển nhượng nhưng ông H vẫn không tới để thực hiện ký kết Hợp đồng chuyển nhượng đối với hai thửa đất nêu trên. (Có vi bằng ghi nhận sự việc)

Bà V đã rất thiện chí để thực hiện ký kết Hợp đồng chuyển nhượng đối với hai thửa đất nêu trên với ông H, mặc dù đã được tạo điều kiện gia hạn nhưng ông H vẫn không thực hiện đúng những gì các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng đặt cọc ngày 08/7/2024. Do vậy nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc Hủy hợp đồng đặt cọc và xác định bị đơn mất tiền đặt cọc.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng vắng mặt trong xuốt quá trình tố tụng, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C xác định Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng số 6886 ngày 08/7/2024 tại Văn phòng C giữa bà Nguyễn Viết Cẩm V và ông Nguyễn Văn H được lập đúng trình tự, thủ tục pháp luật về công chứng. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc. Ngày 30/8/2024 bà V có liên hệ Văn phòng công chứng yêu cầu chứng nhận Hợp đồng chuyển nhượng các quyền sử dụng đất theo Hợp đồng đặt cọc nêu trên nhưng đến nay hai bên vẫn chưa ký kết hợp đồng chuyển nhượng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Viết Đ xác định thống nhất với nội dung đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Bà Nguyễn Thị Diệu Y đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng vắng mặt trong xuốt quá trình tố tụng, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Có cơ sở xác định bị đơn không tiếp tục thực hiện hợp đồng mặc dù đã được gia hạn là vi phạm hợp đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy hợp đồng đặt cọc và bị đơn bị mất số tiền đặt cọc. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa hai bên phát sinh từ quan hệ hợp đồng dân sự về đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Diệu Y vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đại diện Văn phòng công chứng và ông Nguyễn Viết Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đương sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét Hợp đồng đặt cọc được công chứng số 6886 ngày 08/7/2024 tại Văn phòng C giữa bên nhận cọc là bà Nguyễn Viết Cẩm V với bên đặt cọc là ông Nguyễn Văn H thỏa thuận về việc đặt cọc đảm bảo cho việc giao kết chuyển nhượng 02 thửa đất: Thửa đất số: 512, 544, 545, tờ bản đồ số: 33, địa chỉ: Phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 016797; Số vào sổ cấp GCN: CH 02192 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/8/2014; Thửa đất số: 1353, tờ bản đồ số: 33, địa chỉ: Phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 688529; Số vào sổ cấp GCN: CH 08420 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/8/2019. Giá trị chuyển nhượng 02 thửa đất 90.000.000.000 (Chín mươi tỷ) đồng, số tiền đặt cọc 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng; Thời hạn để hai bên thực hiện ký kết Hợp đồng công chứng chuyển nhượng trong vòng 50 ngày, chậm nhất hết ngày 27/8/2024; Hợp đồng còn thỏa thuận về trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên khi vi phạm hợp đồng, nội dung thoả thuận của các bên không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Từ những phân tích trên, nhận thấy hình thức và nội dung của hợp đồng đặt cọc mà các bên đã ký kết là phù hợp với quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 119 và Điều 328 của Bộ luật Dân sự nên hợp pháp và có hiệu lực pháp luật, do đó, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng này.

[2.2]. Xét yêu cầu hủy bỏ hợp đồng đặt cọc: Nhận thấy thực hiện các thỏa thuận theo hợp đồng đặt cọc: Về tiền cọc, ông H đã chuyển đủ số tiền cọc 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng vào tài khoản của bà V, đồng thời hai bên có lập giấy xác nhận việc giao nhận đủ tiền cọc ngày 08/7/2024.

Căn cứ Vi bằng số 135/2024/VB-TPLBT lập ngày 27/8/2024, thể hiện sự việc trước thời hạn cuối ngày 27/8/2024 bên nhận cọc có nhiều lần liên hệ bên đặt cọc để xác định thời gian và địa điểm xác lập hợp đồng, tuy nhiên bên đặt cọc nhiều lần xin dời thời hạn với lý do chưa được bên cấp tín dụng giải ngân nhưng không được bên bán đồng ý. Vào ngày 27/8/2024, bà V có đem hồ sơ giấy tờ đến Văn phòng C như đã thỏa thuận nhưng bên đặt cọc không có mặt nên việc xác lập hợp đồng công chứng chưa thể thực hiện được. Do vậy đến thời điểm này, bên đặt cọc được xác định là từ chối giao kết nên là bên vi phạm thỏa thuận của hợp đồng đặt cọc.

Căn cứ Vi bằng số 135/2024/VB-TPLBT lập ngày 27/8/2024, thể hiện sự việc bà V đến trực tiếp nơi cư trú của ông H, vào trong nhà ông H để giao thông báo về việc gia hạn thực hiện hợp đồng đặt cọc, về việc thời gian, địa điểm, việc thanh toán và hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ nếu có.

Căn cứ công văn số 159/VPCCPP ngày 20/11/2024 của Văn phòng C và Căn cứ vi bằng số 136/2024/VB-TPLBT lập ngày 30/8/2024 thể hiện sự việc vào ngày 30/8/2024 bên nhận cọc có đến Văn phòng C liên hệ yêu cầu chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng các quyền sử dụng đất nêu trên nhưng chưa thực hiện được do vắng mặt bên nhận chuyển nhượng. Do vậy, nguyên đơn cho rằng bị đơn vì chưa đủ điều kiện nhận chuyển nhượng nên không ra ký hợp đồng chuyển nhượng theo thông báo là lần thứ 2 từ chối giao kết.

Ngoài ra, căn cứ kết quả xác minh tại công an phường P và nội dung thông tin trao đổi được ghi nhận tại các Vi bằng nêu trên có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Diệu Y, sinh năm 1996, số điện thoại 0979.101.xxx, có địa chỉ cư trú liền kề và có quan hệ nhân thân là cháu ruột của ông Nguyễn Văn H. Quá trình thỏa thuận giao dịch, bà Y là người thay mặt ông H liên lạc với bên nhận cọc từ trước khi ký hợp đồng đặt cọc về các nội dung thỏa thuận đặt cọc, cung cấp thông tin giấy tờ, số tài khoản chuyển cọc, địa điểm văn phòng công chứng, thời gian công chứng,... những nội dung trao đổi này đều khớp với các thông tin trong hợp đồng đặt cọc, thông tin chuyển khoản và diễn biến các sự việc được ghi nhận trong các vi bằng, nên việc nguyên đơn cho rằng lý do bên đặt cọc nhiều lần vi phạm giao kết hợp đồng chuyển nhượng do chưa đủ điều kiện nhận chuyển nhượng là có cơ sở.

Quá trình tố tụng, Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không gửi văn bản hay giao nộp tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc bị đơn không đến toà và cũng không cung cấp bất kỳ chứng cứ, tài liệu nào phản bác lại yêu cầu và trình bày của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với sự vắng mặt của mình. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Từ đó cho thấy lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với số tiền cọc. Căn cứ khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự quy định: “...2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”. Do hai bên không có thỏa thuận nào khác nên ngoài việc hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng, đồng thời tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ theo khoản 1 Điều 147 BLTTDS, khoản 2 Điều 26, khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ghi nhận việc nguyên đơn tự nguyện chịu thay tiền án phí cho bị đơn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 119 và khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật phí và lệ phí;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Viết Cẩm V. Tuyên bố hủy Hợp đồng đặt cọc (để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) được công chứng số 6886 lập ngày 08/7/2024 tại Văn phòng C giữa bên nhận đặt cọc bà Nguyễn Viết Cẩm V với bên đặt cọc ông Nguyễn Văn H. Số tiền đặt cọc 10.000.000.000 (mười tỷ) đồng thuộc về bà Nguyễn Viết Cẩm V.
  2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm 118.300.000 đồng ông Nguyễn Văn H phải chịu. Ghi nhận việc bà Nguyễn Viết Cẩm V tự nguyện nộp thay án phí cho ông Nguyễn Văn H được nhận khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai số: 0042393 ngày 19/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Viết Cẩm V còn phải nộp thêm số tiền 118.000.000 đồng.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp . Thủ Đức;
  • - Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

Đinh Khắc Hưng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2025/DS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 258/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger