TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 258/2024/HS-PT | |
Ngày 18/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAΙ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thế Phương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Trung
Ông Nguyễn Xuân Quang
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 154/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Lê Văn H; do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2023/HS-ST ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
- Bị cáo kháng cáo:
Lê Văn H (tên gọi khác: Lê Văn C, Dù) - sinh năm 1990, tại Đồng Nai; nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Ô (đã chết) và bà Trần Thị C1 - sinh năm 1965ồngH; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 19/02/2007 bị Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai đưa vào Trường G thời hạn 12 tháng, ngày 01/4/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” đã chấp hành xong; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/10/2021 cho tới nay (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo khác và bị hại nhưng không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Nguyễn Thị Thùy L và Lê Văn H chung sống với nhau như vợ chồng, là đối tượng nghiện ma túy, sống lang thang không có nơi ở cố định.
Khoảng tháng 5 năm 2020 Lê Văn H biết ông Lê Văn C2, sinh năm 1935 (ngụ ấp A, xã N, huyện T ) sống một mình, không ai chăm sóc, nên H rủ Nguyễn Thị Thùy L lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông C2 để tiêu xài, L đồng ý. Thực hiện ý định, H điều khiển xe mô tô biển số 72F7-1842 chở L đến nhà ông C2. Khi đến nơi, H đứng bên ngoài L đi vào nhà giả làm nhân viên thu tiền điện. Do tuổi già yếu, mắt mờ ông C2 không nhận biết lấy đưa L 4.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền L rời khỏi nhà ông C2 đưa cho H cất giữ. Sau khi xài hết tiền với thủ đoạn giả làm nhân viên điện lực L và H tiếp tục lừa ông C2 thêm 03 lần với tổng số tiền 12.000.000 đồng. Khoảng 19 giờ ngày 11/01/2021 H chở L đến nhà ông C2 lừa lấy số tiền 4.000.000 đồng. Sau đó, L mang ra đưa cho H cất giữ. Do chê tiền ít, H nói L vào nhà đè lấy tiền ông C2. Tiếp đó, H dùng đèn pin soi vào mặt ông C2 làm chói mắt. Liền đó, L xô ngã rồi dùng vũ lực đè lên người ông C2 dùng tay trái xé túi quần sau bằng vải lấy 2.000.000 đồng. Bị đánh cướp tiền ông C2 kêu la cầu cứu, do sợ bị phát hiện L và H lên xe mô tô bỏ trốn. Sau khi vụ án bị phát hiện, ngày 15/01/2021 Nguyễn Thị Thùy L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt khẩn cấp, Lê Văn H bỏ trốn đến ngày 23 tháng 10 năm 2021 bị Cơ quan Công an xã N, huyện T bắt theo Quyết định truy nã.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Lê Văn H khai báo quanh co, không thừa nhận hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Cướp tài sản của ông Lê Văn C2. Bị cáo Nguyễn Thị Thùy L, thừa nhận cùng với bị cáo Lê Văn H thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Cướp tài sản của ông Lê Văn C2.
Tài sản thiệt hại: Ông Lê Văn C2 bị các bị cáo chiếm đoạt và cướp tổng số tiền 22.000.000 đồng.
- Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 72F7-1842, 01 cái đèn pin, 01 cái quần vải màu xanh.
- Các vấn đề khác:
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy L: Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 729/KL-VPYTW của Viện pháp y tâm thần trung ương B xác định:
+ Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị sử dụng gây hại các chất kích thích/rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định/bệnh do virus suy giảm miễn dịch ở người [HIV], không xác định (F15.1/F60.3/B24-ICD.10).
+ Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Căn cứ vào kết luận nêu trên, có đủ cơ sở để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy L.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo L khai toàn bộ số tiền chiếm đoạt được đưa hết cho bị cáo H và chỉ được H cho một số tiền sử dụng chung cho việc sinh hoạt chung, bị cáo H không thừa nhận và cũng không có chứng cứ nào chứng minh về việc bị cáo nào lấy hết số tiền của bị hại nên buộc chung cả hai bị cáo phải liên đời bồi thường cho bị hại số tiền 22.000.000 đồng, chia phần mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 11.000.000 đồng, bị cáo L đã bồi thường được 6.000.000 đồng vì vậy còn lại số tiền 5.000.000 đồng bị cáo L phải bồi thường tiếp.
3. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2023/HS-ST ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H (tên gọi khác: Lê Văn C, D) và Nguyễn Thị Thùy L phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Cướp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm e khoản 2 Điều 168, Điều 38, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xử phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo Lê Văn H phải chấp hành hình phạt là 09 (chín) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày 23/10/2021.
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm e khoản 2 Điều 168, Điều 38, điểm s, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Thùy L 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phải chấp hành hình phạt là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2021.
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 468, 584, 586, 587, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc các bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Thị Thùy L phải liên đới nộp lại số tiền 16.000.000 đồng để hoàn trả cho ông Lê Văn C2, chia phần cho mỗi bị cáo phải chịu như sau: Bị cáo Lê Văn H phải nộp 11.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phải nộp số tiền 5.000.000 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 72F7-1842, nhãn hiệu SIMBA, số máy HD1P5FMHY114967, số khung CF110II20060036.
- Tịch thu tiêu hủy 01 cái đèn pin, 01 cái quần vải màu xanh.
(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để đảm bảo cho việc thi hành án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/4/2022).
- Số tiền 6.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Thị Thùy L đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú theo biên lai thu tiền số 0000105 ngày 10/3/2023 tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho ông Nguyễn Văn C3.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
4. Kháng cáo:
Ngày 18/4/2023, bị cáo Lê Văn H kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án.
5. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm, cho thấy cấp sơ thẩm giải quyết là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo H kháng cáo cho rằng bị cáo không cùng bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội, nhưng lời khai của bị cáo L, của những người làm chứng và vật chứng thu giữ được, đủ cơ sở xác định bị cáo H đã thực hiện hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm xác định. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo bị cáo Lê Văn H làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh:
Bị cáo quanh co, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Nhưng qua các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà phúc thẩm, đủ cơ sở xác định: Từ khoảng tháng 5 năm 2020 đến ngày 11/01/2021 tại ấp A, xã N, huyện T. Do cần tiền tiêu xài, Nguyễn Thị Thùy L và Lê Văn H đã nhiều lần lừa đảo chiếm đoạt của ông Lê Văn C2, sinh năm 1935 là người già yếu và không có khả năng tự vệ với tổng số tiền 20.000.000 đồng. Ngoài ra Nguyễn Thị Thùy L và Lê Văn H còn thực hiện hành vi cướp 2.000.000 đồng của ông Lê Văn C2.
Như vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và tội “Cướp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên có tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo quanh co, không thành khẩn khai báo, không ăn năn hối cải, nên không có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo:
Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thu thập đúng trình tự luật định, nên có đủ cơ sở xác định chính bị cáo H và bị cáo L cùng thực hiện hành vi phạm tội, Bản án sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Cướp tài sản” là đúng với tình tiết khách quan của vụ án và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, kháng cáo của bị cáo cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội cùng với bị cáo L là không có cơ sở. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Như đã xác định, bị cáo H đã cùng với bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo H có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại như bản án sơ thẩm đã tuyên buộc.
[6] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2023/HS-ST ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
1. Quyết định hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm e khoản 2 Điều 168, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo Lê Văn H phải chấp hành hình phạt là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2021.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 468, 584, 586, 587, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc các bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Thị Thùy L phải liên đới nộp lại số tiền 16.000.000 đồng để hoàn trả cho ông Lê Văn C2, chia phần cho mỗi bị cáo phải chịu như sau: Bị cáo Lê Văn H phải nộp 11.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phải nộp số tiền 5.000.000 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thế Phương |
Bản án số 258/2024/HS-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cướp tài sản)
- Số bản án: 258/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo kháng cáo cho rằng không thực hiện hành vi phạm tội
