Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀNG MAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 258/2024/HS-ST

Ngày: 22/10/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Việt Anh
Bà Trần Thị Minh

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hải Minh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cừ - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 257/2024/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thế P, sinh năm 1987; nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: xóm D, xã Y, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thế C và bà Lê Thị H; vợ: Trịnh Thị T; con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 17/5/2024 đến ngày 23/5/2024 áp dụng biện pháp tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 02 Công an Thành phố H. Có mặt.

Người bị hại: Chị Nguyễn Ngọc K, sinh năm 2000; cư trú tại: P, Chung cư B, số B N, T, huyện T, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1989; nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: xóm D, xã Y, huyện T, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1934; cư trú tại: P, Chung cư B, số B N, T, huyện T, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 16/5/2024, Lê Thế P một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave màu xanh, BKS: 29R7 – 3997 đi theo hướng từ cầu V về xã Y, huyện T, Thành phố Hà Nội. Khi P đi đến K đường Đ thì thấy chị Nguyễn Ngọc K điều khiển xe máy hiệu Honda Vision, BKS: 29E2 – 90366 chở phía sau là bà Nguyễn Thị Đ (sinh năm 1934; trú tại: Số B N, T, T, Thành phố Hà Nội) đi hướng ngược chiều. Thấy chị K vừa điều khiển xe vừa cầm điện thoại trên tay, P liền nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại của chị K. P điều khiển xe máy đi cùng chiều với xe chị K. Khi gần đến nơi P tăng ga, áp sát về phía bên trái xe của chị K rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại của chị K đang cầm ở tay trái làm điện thoại của chị K rơi xuống đất. Bị giật điện thoại, chị K dùng chân trái đạp vào sườn xe máy của P làm xe máy của chị K và xe của P đều bị đổ ra đường. Khi P đứng dậy dựng xe định bỏ chạy thì chị K túm vào áo phía sau lưng của P mục đích không cho P tẩu thoát; P liền dùng chân đạp vào vùng bụng của chị K nên chị K buông tay ra, P tăng ga điều khiển xe máy bỏ chạy theo hướng cầu V và đi về phòng trọ của P ở xóm D, Y, huyện T, Thành phố Hà Nội. Do lúc xe máy của P bị đổ nên P đánh rơi 01 túi vải màu đen KT (14 x 18 x 25)cm bên trong có 01 chiếc tua vít, 01 cờ lê; 03 phiếu ghi hóa đơn, phiếu bảo trì, sửa chữa; 01 áo mưa màu đỏ. Chị K đã giao nộp toàn bộ tài sản trên cho Cơ quan điều tra.

Ngày 17/5/2024, Lê Thế P đã đến Công an quận H đầu thú, khai nhận hành vi của mình theo diễn biến đã nêu trên và trình bày nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do cần tiền tiêu xài cá nhân, thấy đường vắng vẻ, người bị hại sơ hở nên P đã thực hiện hành vi. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thế P nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Theo kết luận định giá tài sản số 137/KL-HĐĐGTS ngày 14/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H : 01 điện thoại di động Iphone 12 Pr 0 màu xanh, số imei1:354794265360390; imei2: 35479486536039. Trị giá là 8.000.000 đồng.

Đối với việc chị K bị P đạp vào bụng và bà Nguyễn Thị Đ bị xe máy đè lên chân khi xe máy của chị K và P điều khiển bị đổ ra đường: chị K và bà P không bị thương tích gì, không ảnh hưởng đến sức khỏe và không yêu cầu đi khám thương, giám định thương tích. Chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro màu xanh của chị K bị rơi xuống đường, không bị hư hỏng gì nên chị K cũng không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu xanh đen; số khung: RLHHC08022Y049753; Số máy: HC09E-0054335, có BKS 29 R7-3997, Lê Thế P cùng vợ là Trịnh Thị T mua lại của vợ chồng Bùi Văn L, sinh năm 1985 và Trịnh Thị H1, sinh năm 1986 (cùng cư trú tại: xóm D, Thôn A, xã Y, huyện T, Thành phố Hà Nội) với giá 3.000.000 đồng. Trước đó Bùi Văn L và Trịnh Thị H1 mua lại của ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1960 (cư trú tại: xóm D, Thôn A, xã Y, huyện T, Thành phố Hà Nội) với giá 2.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, làm việc với ông V. Ông V trình bày trước đó, đã lâu ông mua chiếc xe của một nam thanh niên không quen biết với giá 4.500.000 đồng; khi mua xe có viết giấy tờ mua bán và ông có cầm đăng ký xe nhưng do sử dụng đã lâu nên ông làm mất giấy tờ và chiếc xe qua thời gian ông sử dụng cũ, hỏng, không nổ máy được nên ông mới bán lại cho vợ chồng L, H1. Qua giám định số khung: RLHHC08022Y049753; Số máy: HC09E-0054335 là số nguyên thủy, không nằm trong dữ liệu xe vật chứng và tiến hành tra cứu xác định người đứng tên đăng ký là ông Nguyễn Đình K1, sinh năm 1966 (cư trú tại: xóm D, Thôn A, xã Y, huyện T, Thành phố Hà Nội). Ông K1 trình bày bản thân ông không nhớ cụ thể, vì thời gian đã lâu, trước đây có thời gian là người có hộ khẩu ở Hà Nội thì mới làm thủ tục đăng ký xe được, do vậy có thể vào thời điểm đó ông K1 có đứng tên đăng ký hộ và nay ông không nhớ. Ngày 16/5/2024, Lê Thế P sử dụng chiếc xe máy này để cướp giật tài sản.

Đối với chiếc Biển kiểm soát 29R7-3997: Phòng K2 kết luận không giám định BKS 29R7-3997 vì không có mẫu so sánh. Kết quả tra cứu trùng với Biển kiểm soát của xe vật chứng do Công an huyện T ra thông báo truy tìm. Cơ quan Điều tra đã xác minh tại Công an huyện T xác định không thấy dữ liệu nên chưa có căn cứ để xác minh tiếp theo. Ngày 13/9/2024, Cơ quan điều tra đã quyết định tách tài liệu liên quan chiếc Biển kiểm soát 29R7-3997 để xác minh, xử lý sau.

Đối với 01 túi vải màu đen (kích thước 14 x 18 x 25 cm) bên trong có 01 chiếc tua vít, 01 cờ lê; 03 phiếu ghi hóa đơn, phiếu bảo trì, sửa chữa; 01 áo mưa màu đỏ. Quá trình xác minh là tài sản của P dùng để đi làm nghề sửa chữa điện nước, không liên quan đến vụ án.

Về dân sự: chị Nguyễn Ngọc K không có yêu cầu, đề nghị gì.

Vật chứng của vụ án được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, để chờ quyết định xử lý.

Tại Cáo trạng số 256/CT-VKS-HM ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Thế P về tội Cướp giật tài sản, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Thế P thành khẩn khai nhận hành vi, thừa nhận cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và đề nghị Tòa án xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Bị hại có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên toàn bộ lời khai đã trình bày trong suốt quá trình điều tra, truy tố; xác nhận đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Trịnh Thị T trình bày về chiếc xe máy Honda Wave alpha bị cáo P dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe do P thỏa thuận mua với số tiền 3.000.000 đồng và P đưa tiền cho chị, sau đó chị chuyển khoản cho người bán. Chị xác định chiếc xe là tài sản riêng của P, chị không có ý kiến gì về chiếc xe máy này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội sau khi luận tội, vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Thế P từ 38 đến 42 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng; Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu nên không đề nghị giải quyết; Về vật chứng: đề nghị tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 chiếc xe máy Honda Wave alpha, màu xanh đen; số khung: RLHHC08022Y049753; Số máy: HC09E-0054335; trả lại cho Lê Thế P 01 túi vải màu đen (kích thước 14 x 18 x 25 cm) bên trong có 01 chiếc tua vít, 01 cờ lê; 01 áo mưa màu đỏ do không liên quan đến hành vi phạm tội; tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 03 phiếu ghi hóa đơn, phiếu bảo trì, sửa chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi quyết định tố tụng:

Về hành vi quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người bị hại: Xét thấy, người bị hại đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đã có lời khai đầy đủ tại Cơ quan Điều tra và việc vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử; do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 16/5/2024, tại K đường Đ, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội, Lê Thế P đã có hành vi điều khiển xe máy Wave màu xanh đen, mang BKS: 29R7 – 3997 tăng ga, áp sát về phía bên trái xe máy của chị Nguyễn Ngọc K đang điều khiển rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động iphone 12 Pro màu xanh chị K đang cầm ở tay trái một cách công khai, rồi nhanh chóng tẩu thoát.

Theo Kết luận định giá tài sản: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là chiếc điện thoại iphone 12 Pro màu xanh có trị giá 8.000.000 đồng. Việc bị cáo sử dụng phương tiện là xe mô tô, xe máy để thực hiện hành vi cướp giật tài sản thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, là tình tiết định khung tăng nặng đối với bị cáo được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Lê Thế P về tội danh và điều luật áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, khá táo bạo và liều lĩnh; bị cáo đã lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người khác để chiếm đoạt tài sản một cách công khai và không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: khi thực hiện hành vi phạm tội nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại cho người bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, hoàn cảnh gia đình của bị cáo có 02 con, trong đó có 01 con còn nhỏ, 01 con bị bệnh tim bẩm sinh từ bé. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với xã hội giúp đỡ gia đình cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại cho người bị hại và người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét, giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu xanh đen; số khung: RLHHC08022Y049753; Số máy: HC09E-0054335 đã thu giữ của bị cáo: được xác định là tài sản của bị cáo và bị cáo đã dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 túi vải màu đen, 01 chiếc tua vít, 01 cờ lê và 01 chiếc áo mưa màu đỏ thu giữ của bị cáo được xác định không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 03 phiếu ghi hóa đơn, phiếu bảo trì, sửa chữa: không còn giá trị sử dụng và đang được lưu tại hồ sơ vụ án; do đó tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

[7]. Các vấn đề khác:

Đối với những người mua, bán chiếc xe máy Honda Wave alpha, màu xanh đen; số khung: RLHHC08022Y049753; Số máy: HC09E-0054335: Kết quả giám định số khung: RLHHC08022Y049753; Số máy: HC09E-0054335 là số nguyên thủy, không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Ông Nguyễn Văn V khi mua xe có giấy tờ mua, bán, có đăng ký xe, việc mua bán là hợp pháp nhưng do quá trình sử dụng ông đã làm thất lạc giấy tờ, sau đó do xe cũ, hỏng nên ông bán lại cho vợ chồng Bùi Văn L và Trịnh Thị H1 mang về sửa chữa rồi bán lại cho vợ chồng Trịnh Thị T, Lê Thế P. Do đó Cơ quan điều tra không xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản là có căn cứ.

Đối với chiếc Biển kiểm soát 29R7-3997: Phòng K2 kết luận không giám định BKS 29R7-3997 vì không có mẫu so sánh. Kết quả tra cứu trùng với Biển kiểm soát của xe vật chứng do Công an huyện T ra thông báo truy tìm. Cơ quan Điều tra đã xác minh tại Công an huyện T xác định không thấy dữ liệu nên chưa có căn cứ để xác minh tiếp theo. Ngày 13/9/2024, Cơ quan điều tra đã quyết định tách tài liệu liên quan chiếc Biển kiểm soát 29R7-3997 để xác minh, xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ xử lý.

[8]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: các điều 45, 46, 260, 268, 269, 299, khoản 1 Điều 292, Điều 326 và Điều 327 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thế P phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. Về hình phạt: xử phạt Lê Thế P 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại cho người bị hại và người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét, giải quyết.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46,47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
    • - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu xanh đen; số khung: RLHHC08022Y049753; Số máy: HC09E-0054335 đã thu giữ của bị cáo.
    • - Trả lại cho Lê Thế P: 01 túi vải màu đen, 01 chiếc tua vít, 01 cờ lê và 01 chiếc áo mưa màu đỏ.
    • - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 03 phiếu ghi hóa đơn, phiếu bảo trì, sửa chữa.

    (Các vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội).

  6. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326 QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Lê Thế P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại; NLQ;
  • - VKS ND Q.Hoàng Mai, TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Cơ quan ĐT CA Q.Hoàng Mai;
  • - Phòng KTNV &THA TATP Hà Nội;
  • - Chi Cục THADS Q.Hoàng Mai, TP Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trung tâm Lý lịch tư pháp QG – BTP;
  • - Lưu HSVA, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 258/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thế P phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger