Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 258/2024/HS-ST

Ngày 12-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh

Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Kim Dung

Bà Nguyễn Thị Mai Vinh

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 246/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1978, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn R (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; có vợ Nguyễn Thị N và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 25/HS-ST, ngày 29/3/2024, Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; bắt giam từ ngày 27/11/2023, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Bà Hoàng Thị H - Luật sư Văn phòng L2 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.

- Bị hại:

  • + Anh Bùi Quang Q, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1964, cùng trú tại: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; bà B có mặt, ông Đ vắng mặt.
  • + Anh Trịnh Quang A, sinh năm 1994 và chị Phạm Thị L, sinh năm 1995, cùng trú tại: Số G đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng; anh Quang A có mặt, chị L vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Lê Văn T2, có mặt; anh Nguyễn Đức C vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 06 năm 2023, Nguyễn Văn T đã thực hiện một số vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng, cụ thể:

- Vụ thứ nhất: Khoảng cuối năm 2022, do có quen biết từ trước, anh Bùi Quang Q, sinh năm 1974, trú tại: xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng nhờ Nguyễn Văn T tìm luật sư để bào chữa cho Ngô Thị Minh T3, sinh năm 1992, trú tại: xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng là em dâu của anh Q đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện A, thành phố Hải Phòng bắt giữ về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất mà túy. T cùng với luật sư Trần Văn T4 của công ty L3 V đã ký hợp đồng bào chữa cho T3. Do vay nợ nhiều nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh Q. T nói có thể lo cho T3 được tại ngoại và hưởng án treo với số tiền chi phí là 500.000.000 đồng, nhưng anh Q không đồng ý vì không đủ tiền. Ngày 10/3/2023, T nói lại với anh Q là lo được cho T3 tại ngoại và hưởng án treo với số tiền chi phí là 200.000.000 đồng thì anh Q đồng ý. Ngày 15/3/2023, sau khi vay được tiền anh Q đã chuyển cho T 165.000.000 đồng và T viết giấy biên nhận số tiền trên. Sau khi nhận được tiền, T không thực hiện bất kỳ việc gì để lo cho T3 như đã hứa hẹn mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

- Vụ thứ hai: Do đang vay nợ nhiều nên khi được ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959 và vợ là bà Phạm Thị B, sinh năm 1964, trú tại: thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng nhờ làm thủ tục tách 50m² trong thửa đất của mình cho con gái là chị Nguyễn Thị T5 thì Nguyễn Văn T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông Đ bà B và nhận làm thủ tục tách thửa với số tiền chi phí là 70.000.000 đồng. Để tạo lòng tin, T đã đưa hai nhân viên (T không nhớ tên) của Công ty K1 - Chi nhánh T8 đến làm thủ tục đo đạc trên thửa đất của ông Đ, bà B. Sau khi thỏa thuận, thống nhất ông Đ bà B đã chuyển cho T các giấy tờ, tài liệu và số tiền 70.000.000 đồng. Số tiền nhận được, T đã chi tiêu cá nhân hết, không làm bất cứ thủ tục gì để tách thửa đất cho bà B. Đến cuối tháng 4/2023, không thấy T làm được thủ tục tách thửa nên bà B đã đến gặp, yêu cầu T trả lại toàn bộ tiền và giấy tờ thì T đưa ra các lý do để trì hoãn, do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ, bà B, T đã mang đi ký hợp đồng chuyển nhượng để vay của Lê Tiến T6, sinh năm: 1988, trú tại: số A đường P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng với số tiền 500.000.000 đồng. Để tạo lòng tin cho bà B, T đã viết tay một giấy cam kết hứa hẹn sẽ làm xong việc tách thửa và chuyển trả lại cho bà B số tiền 35.000.000 đồng.

- Vụ thứ ba: Quá trình hứa làm thủ tục tách thửa cho ông Đ, bà B, do có ý định mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi cầm cố lấy tiền, T nói cần hợp đồng ủy quyền để phục vụ việc làm thủ tục tách thửa nên đã đưa ông Đ, bà B ký, điểm chỉ hợp đồng ủy quyền, sau đó đã ký hợp đồng chuyển nhượng với Đinh Ngọc L1, sinh năm 1985, trú tại: số B đường N, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng để vay Nguyễn Tiến T7 500.000.0000 đồng, lãi suất 2.000 đồng/01 triệu/ngày. Đến khoảng tháng 5/2023, do không có khả năng thanh toán số tiền vay T7 để lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời đang cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân nên T này sinh ý định ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất của ông Đ, bà B cho người khác để lấy tiền và T đã nhờ T7 tìm giúp người nhận chuyển nhượng. T7 đồng ý và giới thiệu anh Trịnh Quanh A1, sinh năm 1994, vợ là Phạm Thị L, sinh năm 1995, trú tại: số G đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng nhận chuyển nhượng với số tiền 1.100.000.000 đồng. Ngày 01/6/2023, sau khi làm thủ tục hủy hợp đồng chuyển nhượng với Đinh Ngọc L1, T đã ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên sang cho vợ chồng anh Trịnh Quang A tại văn phòng C1. Làm xong thủ tục chuyển nhượng, anh Quang A đã chuyển cho T 251.500.000 đồng, số còn lại T thỏa thuận để T7 trừ vào nợ gốc và lãi.

Tại Bản kết luận giám định số 78/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K2, Công an thành phố H kết luận: Chữ ký, chữ viết và dấu vân tay trên hợp đồng ủy quyền lập ngày 20/11/2022 mang số công chứng 4293/2022 được văn phòng công chứng Phạm Thị B chứng thực và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 01/6/2023 mang số công chứng 2837/PNT/23 được văn phòng công chứng Nguyễn Thị K chứng thực là của Nguyễn Văn T.

Tại Bản kết luận giám định số 204/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng K2, Công an thành phố H kết luận: Chữ ký, chữ viết trong giấy cam kết ghi ngày 27/4/2023 ghi tên Nguyễn Văn T, sinh năm: 1978, ở 36/52 TDP Đ, thị trấn N, T, Hải Phòng là của Nguyễn Văn T.

Tại Bản kết luận giám định số 102/KL-KTHS ngày 22/11/2023 của Phòng K2, Công an thành phố H kết luận: Chữ ký, chữ viết và dấu vân tay trên hợp đồng ủy quyền lập ngày 20/11/2022 mang số công chứng 4293/2022 được văn phòng công chứng Phạm Thị B chứng thực là của ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị B.

Tại Bản kết luận giám định số 245/KL-KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng K2, Công an thành phố H kết luận: Giấy cam kết ghi ngày 14/3/2023, bên giao: Bùi Quang Q, bên nhận là Nguyễn Văn T là do T viết và ký tên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Lời khai của bị cáo, phù hợp với lời khai của những người bị hại, lời khai người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra.

Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 132259 cho bà Phạm Thị B.

Về dân sự: Những người bị hại gồm có bà Phạm Thị B yêu cầu T bồi thường tiếp số 35.000.000 đồng; anh Bùi Quang Q yêu cầu T bồi thường số tiền 165.000.000 đồng; anh Trịnh Quang A yêu cầu T bồi thường số tiền 1.100.000.000 đồng. Hiện nay, bị cáo T chưa bồi thường cho các bị hại.

Tại Bản Cáo trạng số 249/CT-VKS-P3 ngày 18/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với xã hội.

Các bị hại khai đúng với nội dung bị cáo đã khai nhận tại phiên toà, về trách nhiệm dân sự bị hại Q, bà B yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt. Bị hại Trịnh Quang A tại phiên toà không yêu cầu bị cáo bồi thường, anh cho biết sẽ khởi kiện dân sự yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký với bị cáo Nguyễn Văn T.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 14 năm đến 15 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt 9 năm 06 tháng tù tại Bản án số 25/HS-ST ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 23 năm 06 tháng đến 24 năm 06 tháng tù.

Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh Trịnh Văn Q1 số tiền 165.000.000 đồng, bồi thường cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị B 35.000.000 đồng. Đối với anh Trịnh Quang A và chị Phạm Thị L, do không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và Điều luật truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là bị cáo ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có bố là thương binh nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Do cần tiền tiêu xài nên từ cuối năm 2022 đến tháng 6/2023, Nguyễn Văn T đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh Bùi Quang Q số tiền 165.000.000 đồng, của ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị B số tiền 70.000.000 đồng và của anh Trịnh Quang A và chị Phạm Thị L số tiền 1.100.000.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Văn T đã chiếm đoạt là 1.335.000.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.
  3. Về tình tiết định khung: Số tiền bị cáo Nguyễn Văn T chiếm đoạt của các bị hại là 1.335.000.000 đồng nên hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”.

    Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.

  4. Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh địa phương do vậy, cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
  5. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”.
  6. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có bố đẻ là thương binh nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  7. Về hình phạt: Căn cứ tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại trên 1 tỷ đồng chưa bồi thường nên xử phạt bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tại bản án số 25/HS-ST, ngày 29/3/2024, Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo T 09 năm 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bản án này bị cáo chưa thi hành nên cần tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
  8. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có căn cứ nên được chấp nhận.
  9. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Bùi Quang Q yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 165.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị B yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 35.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét yêu cầu của các bị hại là chính đáng và hợp pháp nên chấp nhận yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường đầy đủ số tiền trên. Bị hại Trịnh Quang A và chị Phạm Thị L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.100.000.000 đồng trong vụ án này. Anh chị sẽ khởi kiện vụ án Dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  10. Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  11. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
  12. Các vấn đề khác: Đối với Lê Tiến T6 không biết T lừa dối ông Đ bà B để làm hợp đồng ủy quyền rồi mang thế chấp cho T6 bằng hình thức chuyển nhượng cho Đinh Ngọc L1 để vay tiền. Do vậy, không đủ căn cứ xác định T6 đồng phạm với T. Việc vay tiền giữa T6 và T được giao dịch không có văn bản giấy tờ, thỏa thuận lãi suất là 2.000 đồng/01 triệu/01 ngày nên chưa đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội đối với T6. Tuy nhiên, T6 không đăng ký kinh doanh ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự mà cho T vay tiền có thể chấp tài sản, Cơ quan điều tra chuyển tài liệu cho cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Ngoài ra, Cơ quan điều tra tiếp tục thu thập tài liệu chứng cứ đối với hành vi cho vay khác của T6 để xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xử phạt Nguyễn Văn T 14 (mười bốn) năm tù. Tổng hợp hình phạt 9 năm 06 tháng tù tại Bản án số 25/HS-ST ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 23 (hai mươi ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2023 (theo Bản án số 25/HS-ST ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường cho anh Bùi Quang Q số tiền 165.000.000 đồng (một trăm sáu mươi lăm triệu) đồng; bồi thường cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị B số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi năm triệu) đồng.

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 (mười triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường trên, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 – TANDTC;
  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PV06 Công anTP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TPHP;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Văn Tỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 258/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 14 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger