TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 258/2024/DS-PT
Ngày: 12/6/2024
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
- Các thẩm phán: Bà Hồ Thị Tuyết Phương
Bà Hà Thị Phương Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Trung Nam – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXPT-DS, ngày 10 tháng 5 năm 2024.
Do Bản án số 32/2024/DSST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử sơ thẩm có kháng cáo giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng N2
Địa chỉ trụ sở chính: số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn T – chức vụ: Chủ tịch HĐ thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu T1 sinh năm 1974 (có mặt).
Địa chỉ liên hệ: ấp N, thị trấn P, huyện P, Thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn: Ông Đinh Viết Đ, sinh năm: 1969 (có mặt)
Bà Quách Thị M, sinh năm: 1970 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: số I Vành Đai P (nay là đường N), phường A, quận N, TP ..
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đinh Viết M1, sinh năm: 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: 190/1F, đường 30/4 phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Nay là Nhà nghỉ Minh Sơn, số 190/1H, đường 30/4 phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.
2. Công ty Cổ phần V
Địa chỉ: số D H, phường T, quận B, TP ..
Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thị Quỳnh N – chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tuấn N1, sinh năm 1985 (có mặt)
Người kháng cáo: Ông Đinh Viết Đ, bà Quách Thị M, ông Đinh Viết M1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện 03/7/2023 cũng như trong quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:
Ngày 19/03/2019, ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M đã ký Hợp đồng tín dụng số GY0029.104/HDDTD (1806LAV201900725) với Agribank CN huyện P vay số tiền 4.500.000.000 đồng (bốn tỷ năm trăm triệu đồng) cho mục đích vay đầu tư tài sản (mua nhà nghỉ). Thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 10.5%/ tháng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Căn nhà và QSD đất thửa số 193, tờ bản đồ số 28, diện tích đất 60m2, diện tích sàn 182,2m² theo giấy chứng nhận QSD đất và tài sản gắn liền với đất số phát hành: BD703270, số vào sổ: CH01543 do U cấp ngày 13/01/2011, cập nhật chỉnh lý ngày 29/07/2013. Chủ sở hữu tài sản là ông Đinh Viết M1. Việc thế chấp tài sản đã được ông Đinh Viết M1 (bên thế chấp), ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M (bên được cấp tín dụng) và Agribank CN huyện P ký Hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số GY0029.104 ngày 19/03/2019. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Theo Hợp đồng tín dụng số GY0029.104/HDDT (1806LAV201900725) ngày 19/03/2019 bên vay đã để phát sinh nợ lãi quá hạn kéo dài đến thời điểm hiện tại (chỉ đóng lãi đến ngày 18/01/2020).
Căn cứ các cam kết và các điều khoản đã thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M không thực hiện đúng cam kết và Hợp đồng đã ký. Cụ thể Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M còn nợ Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 05/02/2024 như sau: Nợ gốc : 4.200.000.000 đồng; Nợ lãi: 1.860.365.069 đồng; Tổng cộng là 6.060.365.069 đồng.
Xét thấy khoản nợ đã quá hạn rất nhiều ngày với số tiền lớn do bên vay không có khả năng trả nợ, đã cam kết trả nhiều lần nhưng không thực hiện được. Vì vậy, Ngân hàng tiến hành khởi kiện bên vay nhằm mục đích nhanh chóng xử lý thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng.
Để thu hồi vốn, đại diện cho Ngân hàng N2 đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M có trách nhiệm, nghĩa vụ liên quan trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng (kể cả lãi phát sinh cho đến ngày trả tất nợ vay) theo các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp đã ký. Trong trường hợp ông Đ và bà M không trả được toàn bộ số nợ trên cho phía Ngân hàng thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp đề thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là: Giấy chứng nhận QSD đất và nhà ở diện tích đất 60m2, diện tích sàn 182,2 m², số phát hành: BD703270, số vào sổ: CH01543 do U cấp ngày 13/01/2011. Chủ sở hữu là ông Đinh Viết M1.
* Bị đơn ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M đã được tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chỉ có ông Đ đến tham dự hòa giải còn bà M vắng mặt. Tại biên bản hòa giải ngày 20/10/2023 ông Đ thống nhất với yêu cầu của Ngân hàng. Đồng thời, ông Đ nêu lý do vợ của ông là bà M bận đi làm nên không tham dự hòa giải theo thông báo của Tòa án.
Trong các lần hòa giải sau cũng như xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản bảo đảm thì các Bị đơn đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù các Bị đơn đã được tống đạt trực tiếp các Quyết định và giấy triệu tập để tham dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Đinh Viết M1 trình bày: Thống nhất với ý kiến của Ngân hàng, ông M1 có sử dụng tài sản là nhà, đất do ông M1 đứng tên Giấy chứng nhận số CH01543 do UBND quận U cấp để thế chấp nhằm đảm bảo khoản vay Ngân hàng N2 CN huyện P. Do kinh doanh khó khăn nên vi phạm việc đóng lãi, trả vốn cho Ngân hàng. Ông M1 đề nghị cho ông M1, ông Đ thời hạn 30 ngày để phương án trả nợ Ngân hàng. Nhưng sau đó cũng như trường hợp của ông Đ thì ông M1 đã nhiều lần vắng mặt không lý do nên sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án quyết định mở phiên tòa xét xử.
Ý kiến của đại diện Công ty Cổ phần V: Giữa ông Đinh Viết M1 với Công ty Cổ phần V có ký Hợp đồng thuê vị trí đặt trạm BTS Viễn thông số 05/HĐ-MVV-MB ngày 17/01/2023 thời hạn thuê 10 năm 06 tháng, mạng thứ 1 là 5.000.000 đồng, mạng thứ 2 cộng thêm 2.000.000 đồng. Hiện tại Công ty đang thuê và trả tiền cho ông M1 mỗi tháng là 7.000.000 đồng, Công ty đã xây dựng trụ anten thu phát sống thông tin di động (BST), Công ty đã đóng tiền thuê 1 năm đến cuối tháng 04 năm 2024. Vì vậy, Công ty có ý kiến tiếp tục thuê theo hợp đồng như đã ký, nếu Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sảm bảm đảm thì Công ty M3 tiếp tục thuê nhà đất trên và sẽ thỏa thuận với bên có quyền đối với tài sản để Công ty thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, thời điểm hiện tại Công ty không có yêu cầu độc lập.
Tại Bản án sơ thẩm số 32/2024/DSST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng N2 về “tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với Bị đơn ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M.
Buộc ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N2 tổng số tiền nợ là 6.060.365.069 đồng (trong đó: tiền nợ gốc là 4.200.000.000 đồng, tiền nợ lãi 1.860.365.069 đồng) và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết tính từ tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Khi các Bị đơn trả xong số tiền nợ trên, Nguyên đơn phải trả lại bản chính giấy chứng nhận QSD đất và tài sản gắn liền với đất số phát hành: BD703270, số vào sổ: CH01543 do UBND quận U cấp ngày 13/01/2011, cập nhật chỉnh lý ngày 29/07/2013 chủ sở hữu tài sản là ông Đinh Viết M1. Trường hợp các Bị đơn Đinh Viết Đ và Quách Thị M không thanh toán, thanh toán không đủ các khoản vay nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số GY0029.104 ngày 19/3/2019 để thu hồi nợ theo quy định.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo theo qui định.
Ngày 26/02/2024 Bị đơn Đinh Viết Đ và Quách Thị M có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng vì Bị đơn có đơn xin hoãn phiên tòa nhưng vẫn xử vắng mặt. Khoản nợ vay là của ông M1, đề nghị chuyển nghĩa vụ trả nợ là của ông M1.
Ngày 26/02/2024 ông Đinh Viết M1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng do không đưa Điện lực Ninh K vào tham gia tố tụng. Khoản nợ vay là của ông đề nghị chuyển nghĩa vụ trả nợ là của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Đinh Viết Đ thay đổi yêu cầu kháng cáo, rút yêu cầu về việc hủy Bản án sơ thẩm, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đối với việc đề nghị chuyển nghĩa vụ trả nợ cho ông Đinh Viết M1, ông Đinh Viết M1 có đơn xin hoãn phiên tòa lần thứ 2, Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng qui định của luật tố tụng. bà Quách Thị M vắng mặt, ông Đinh Viết M1 xin hoãn phiên tòa lần thứ 2 nên không chấp nhận. Vì vậy, đề nghị xét xử xét xử vắng mặt bà M, ông M1 do đã được triệu tập hợp lệ.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện Nguyên đơn.
Xét kháng cáo của Bị đơn và người liên quan về việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ. Tại phiên tòa phúc thẩm Bị đơn đề nghị chuyển nghĩa vụ trả nợ cho ông M1 được Ngân hàng chấp nhận, các bên thỏa thuận việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ, nên đề nghị Tòa án ghi nhận. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị được giữ nguyên.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết:
Giữa Ngân hàng N2 với ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M đã ký kết Hợp đồng tín dụng cho vay với mục đích cá nhân, gia đình bổ sung vốn mua nhà nghỉ, do ông Đ, bà M vi phạm nghĩa vụ trong Hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án đòi số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng ký kết. Vì vậy, xác định đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
[2] Về tố tụng: Đối với các Bị đơn ông Đinh Viết Đ, bà Quách Thị M và người có liên quan ông Đinh Viết M1 Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng, thông báo, triệu tập nhiều lần để ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M có mặt nhằm tạo điều kiện để các bên hòa giải, thống nhất, thỏa thuận phương án giải quyết vụ án, phương thức thanh toán khoản tiền nợ nhưng không có kết quả. Điều này thể hiện việc ông Đinh Viết Đ, bà Quách Thị M và ông Đinh Viết M1 không thực hiện, không chấp hành mà từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng được pháp luật quy định. Bị đơn ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt các Bị đơn theo luật định là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm dù đã tống đạt hợp lệ lần thứ 2 nhưng bà M và ông M1 vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo qui định.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về Hợp đồng tín dụng số GY0029.104/HDDTD ngày 19/03/2019.
Xét yêu cầu của Nguyên đơn về khoản nợ vay, thấy rằng: Ngày 19/03/2019, ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M đã ký hợp đồng tín dụng số GY0029.104/HDDTD (1806LAV201900725) với Agribank CN Huyện P vay số tiền 4.500.000.000 đồng (bốn tỷ năm trăm triệu đồng) cho mục đích vay đầu tư tài sản. Thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 10.5%. Như vậy, Hợp đồng tín dụng ký kết giữa hai bên có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, là Hợp đồng hợp pháp nên có hiệu lực thi hành.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M chỉ trả được tiền gốc 03 kỳ mỗi kỳ 100.000.000 đồng và đóng một phần tiền lãi phát sinh tương ứng. Ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M đã không tiếp tục thực hiện hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi hàng tháng, vi phạm thời hạn thanh toán. Nên Ngân hàng nhiều lần gửi thư mời cũng như thông báo đòi nợ, nhưng ông Đ, bà M và ông M1 đã không có phương án trả nợ cụ thể. Vì vậy, Ngân hàng đã khởi kiện tại Tòa án để thu hồi khoản tiền nợ vay là hoàn toàn có căn cứ.
Ngân hàng đã tính lãi với mức lãi suất, thời gian vi phạm theo đúng thoả thuận trong hợp đồng. Bảng tính lãi do Ngân hàng cung cấp đã tính đúng số ngày, mức lãi suất áp dụng trong Hợp đồng tín dụng ký kết. Tính đến ngày 05/02/2024, ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M còn nợ tại Ngân hàng N2 tổng số tiền nợ là 6.060.365.069 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 4.200.000.000 đồng, tiền nợ lãi 1.860.365.069 đồng và phải tiếp tục trả khoản tiền lãi cho đến khi trả tất nợ theo lãi suất được ghi trên Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi nợ của Ngân hàng là có căn cứ.
[3.2] Về Hợp đồng thế chấp và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp.
Theo Hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số GY0029.104 ngày 19/3/2019 theo đó Đinh Viết M1 thế chấp các tài sản gồm nhà và đất tại số A đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ và thửa đất 193, tờ bản đồ 28, diện tích 60m² đất (ODT) theo Giấy chứng nhận QSDĐ số CH01543 do UBND quận U, thành phố Cần Thơ cấp ngày 13/01/2011 cập nhật biến động ngày 29/7/2013 để đảm bảo cho khoản vay cho ông Đ, bà M tại Ngân hàng. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch đảm bảo được thực hiện đúng theo quy định, trường hợp Bị đơn không trả, trả không đủ các khoản vay cho Ngân hàng, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi các tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ theo quy định.
Đối với Hợp đồng thuê mặt bằng giữa Công ty Cổ phần V với ông Đinh Viết M1 để thuê vị trí đặt trạm BTS Viễn thông trên nhà số A đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (nay là Nhà nghỉ M2 số A đường C), Công ty đã xây dựng trụ anten thu phát sống thông tin di động (BST), Công ty đã đóng tiền thuê 1 năm đến cuối tháng 04 năm 2024 hiện tại Công ty không có yêu cầu độc lập. Do đó, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn ông Đinh Viết Đ, bà Quách Thị M, yêu cầu kháng cáo của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Viết M1.
[3.1] Về kháng cáo của Bị đơn yêu cầu chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho ông Đinh Viết M1.
Tại phiên tòa ông Định đề n xem xét trách nhiệm trả nợ là của ông M1, do ông M1 là người trực tiếp vay tiền Ngân hàng, nhờ vợ chồng Bị đơn ký tên trên Hợp đồng tín dụng. Về phía đại diện ủy quyền Ngân hàng đồng ý nhận chuyển giao nghĩa vụ trả nợ là của ông M1. Mặc khác, tại đơn kháng cáo ngày 26/02/2024 ông M1 cũng có yêu cầu được nhận trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng. Như vậy các bên đã thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ trả nợ từ vợ chồng Bị đơn sang trách nhiệm của ông M1, xét đây là thỏa thuận tự nguyện của các bên phù hợp với qui định của pháp luật nên được ghi nhận.
[3.2] Về kháng cáo của ông Đinh Viết M1 yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng vì không đưa Điện lực Ninh Kiều vào tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì ông có ký Hợp đồng cung cấp bán điện cho Điện lực Ninh Kiều, đề nghị hoãn phiên tòa phúc thẩm nhưng không được chấp nhận. Lẽ ra ông M1 vắng mặt Toà sẽ đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của ông, tuy nhiên do yêu cầu kháng cáo có liên quan đến việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ nên cũng cần xem xét trong trường hợp này theo nội dung kháng cáo. Xét thấy, về xét xử vắng mặt như nhận định tại mục [2] thì yêu cầu của ông M1 nêu ra là không có cơ sở. Đối với Hợp đồng mua bán điện giữa hai bên không liên quan gì đến việc giải quyết nợ và việc thế chấp tài sản nên không có cơ sở để xem xét.
Từ những phân tích trên cho thấy Bản án sơ thẩm xét xử đảm bảo đúng trình tự thủ tục tố tụng qui định. Tại phiên toà phúc thẩm Nguyên đơn và Bị đơn thoả thuận chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho ông M1, phù hợp với yêu cầu ông M1 nêu trong đơn kháng cáo nên được ghi nhận. Vì vậy chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Đ, bà M và ông M1. Sửa một phần bản án sơ thẩm theo thỏa thuận của đương sự, điều chỉnh lại trách nhiệm trả nợ của ông M1 và chịu án phí và chi phí thẩm định đo đạc, nhưng không tính lỗi của cấp sơ thẩm. Đối với các vấn đề khác đã nêu trong Bản ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị được giữ nguyên.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên ông M1 phải chịu án phí. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 5.000.000 đồng, Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí nên Bị đơn có trách nhiệm hoàn trả lại cho Nguyên đơn.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông Đ, bà M, ông M1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
[7] Nhận xét và đề nghị của Viện kiểm sát: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về nội dung giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của ông Đinh Viết Đ, bà Quách Thị M và ông Đinh Viết M1.
- Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Đinh Viết Đ, bà Quách Thị M và ông Đinh Viết M1.
Sửa một phần bản án sơ thẩm;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng N2 về “tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với Bị đơn ông Đinh Viết Đ và bà Quách Thị M.
Buộc ông Đinh Viết M1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N2 tổng số tiền nợ là 6.060.365.069 đồng (sáu tỷ, không trăm sáu mươi triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, không trăm sáu mươi chín đồng) trong đó: tiền nợ gốc là 4.200.000.000 đồng, tiền nợ lãi 1.860.365.069 đồng và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết tính từ tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Khi ông Đinh Viết M1 trả xong số tiền nợ trên, Nguyên đơn phải trả lại bản chính giấy chứng nhận QSD đất và tài sản gắn liền với đất số phát hành: BD703270, số vào sổ: CH01543 do UBND quận U cấp ngày 13/01/2011, cập nhật chỉnh lý ngày 29/07/2013 chủ sở hữu tài sản là ông Đinh Viết M1. Trường hợp ông Đinh Viết M1 không thanh toán, hoặc thanh toán không đủ các khoản vay nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số GY0029.104 ngày 19/3/2019 để thu hồi nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đinh Viết M1 phải chịu 114.060.000 đồng (một trăm mười bốn triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng N2 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.893.000 đồng (năm mươi sáu triệu tám trăm chín mươi ba ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001400 ngày 26/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Về chi phí xem xét thẩm định: Bị đơn ông Đinh Viết M1 phải chịu 5.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp xong, ông M1 có trách nhiệm trả lại cho Nguyên đơn số tiền trên tại giai đoạn thi hành án.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đinh Viết Đ, bà Quách Thị M không phải chịu, nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0000993 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Ông Đinh Viết M1 không phải chịu, nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0001015 ngày 08/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 12/6/2024.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Dung | Nơi nhận:
|
Bản án số 258/2024/DS-PT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 258/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
