|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 258/2024/DS-ST
Ngày: 28 – 9 – 2024
V/v Tranh chấp dân sự - Quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phước Tâm.
Ông Phạm Tuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Kim Xoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Quang Trí - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19/9/2024 và 28/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 79/2023/TLST-DS ngày 28/3/2023, về việc “Tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 425/2024/QĐXXST-DS ngày 30/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 485/2024/QĐST-DS, ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:
-
1. Nguyên đơn:
Trần Thị C, sinh năm 1962;Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ 1, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 13/3/2023).
-
2. Bị đơn:
Nguyễn Văn V, sinh năm: 1968;Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
-
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Phạm Thị Thúy H, sinh năm 1968;
- 3.2. Nguyễn Văn M, sinh năm 1988;
- 3.3. Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1999;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông Nguyễn Văn P, ông Nguyễn Văn V, bà Phạm Thị Thúy H có mặt tại phiên tòa; anh Nguyễn Văn M và chị Nguyễn Thị Như Ý vắng mặt không rõ lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Trần Thị C đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn P trình bày: Nguồn gốc đất là của ông ngoại bà C là ông Nguyễn Văn K và bà ngoại là cụ Trần Thị D để lại cho các con phần đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, Đồng Tháp. Sau khi ông K chết thì cậu bà C là ông Nguyễn Văn B yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất của ông D để lại. Ông K và bà D có tất cả 05 người con gồm Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị M1 (chết lúc còn nhỏ không có chồng con), Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị C1 và Nguyễn Thị H2.
Đối với phần đất của bà Nguyễn Thị H1 thì ông Nguyễn Văn S đã mạo danh của bà H1 để từ chối nhận di sản của cha mẹ và ông S đã tự ý làm thủ tục sang tên để ông S đứng tên quyền sử dụng đất.
Phần thừa kế mà bà H1 được nhận từ cha mẹ là 2.593m², thuộc thửa số 1441, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, Đồng Tháp. Bà C là con gái của bà H1 là người thừa kế của bà H1.
Sau đó ông Nguyễn Văn S tự ý sang tên quyền cho ông Nguyễn Văn V đứng tên quyền sử dụng đất trên.
Nay bà Nguyễn Thị C2 yêu cầu ông Nguyễn Văn V phải trả lại quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị C2 diện tích theo đo đạc thực tế thuộc thửa 1441, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Nguyễn Thị C2 đồng ý với sơ đồ đo đạc phần đất tranh chấp và giá của Hội đồng định giá đã định.
Bị đơn ông Nguyễn Văn V trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 1441, tờ bản đồ số 03 là của ông Nguyễn Văn S. Năm 2005, ông S đã chuyển nhượng diện tích đất này cho ông với giá 25.000.000đ. Đến năm 2011, ông S làm thủ tục sang tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V và ông V canh tác từ đó cho đến nay. Khi ông S làm thủ tục sang tên cho ông V thì có trừ phần diện tích đất mà ông S thỏa thuận cho anh P theo Quyết định số 83/2010/QĐST-DS ngày 23/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh. Ông V cho rằng việc ông S và sau này là hộ ông V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoàn toàn hợp pháp, nên ông không đồng ý với yêu cầu của bà Trần Thị C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thúy H trình bày: Thống nhất theo trình bày của ông Nguyễn Văn V, không trình bày gì thêm.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm:
- Sơ đồ đo đạc ngày 04/9/2024 của Trung tâm K1 (bản chính);
- Văn bản ý kiến của Nguyễn Văn P ngày 20/6/2024 (bản chính);
- Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh (bản chính);
- Tờ khai quan hệ hàng thừa kế (bản chính);
- Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của Trần Thái T (bản chính);
- Văn bản từ chối nhận di sản của Nguyễn Văn P1 (bản chính);
- Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã B (bản chính);
- Xác nhận số 189/XN-CAX, ngày 03/10/2022 của công an xã B (bản sao);
- Đơn xin miễn giảm tiền tạm ứng án phí và án phí của bà Trần Thị C (bản chính);
- Trích lục bản đồ địa chính (bản chính);
- Công văn số 3150/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT, ngày 14/3/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C (bản chính);
- Đơn yêu cầu không hòa giải, yêu cầu đưa vụ án ra xét xử ngày 03/8/2023 của ông Nguyễn Văn P (bản chính);
- Biên bản định giá tài sản ngày 29/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản (bản chính).
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không có kiến nghị gì.
Về nội dung vụ án: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu ông Nguyễn Văn V trả lại quyền sử dụng đất tranh chấp nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Quyền sử dụng đất các bên đang tranh chấp tọa lại tại xã B, huyện C, Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 9, Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 24 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai nên thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật Dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Bà C yêu cầu ông V trả lại quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1441, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại xã B, huyện C, Đồng Tháp, hiện tại ông Nguyễn Văn V đang đứng tên quyền sử dụng đất. Bà C cho rằng phần đất tranh chấp trên là của bà H1, nay bà H1 đã chết nên yêu cầu ông V trả lại theo quy định pháp luật.
[2.1] Theo nội dung của Bản án dân sự phúc thẩm số 133/2015/DS-PT, ngày 04/8/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thì thửa đất số 1441, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Thị H1 (tên khác là N), “cụ H1 lập tờ ủy quyền tự nhượng phần thực hương quả” thửa đất này cho em trai là ông Nguyễn Văn S vào ngày 08/9/1984. Mặt khác, Ủy ban nhân dân huyện C cũng đã có văn bản xác định nguồn gốc đất là của ông S, ông S đứng tên sổ mục kê, là người đang sử dụng đất, không có tranh chấp, làm thủ tục kê khai đăng ký được cấp giấy lần đầu và đã làm thủ tục tặng cho ông V theo thủ tục pháp luật. Ông Nguyễn Văn V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/11/2011 là phù hợp theo quy định pháp luật
[2.2] Việc bà Trần Thị C cho rằng phần đất tranh chấp trên là của bà Nguyễn Thị H1 và ông S đi kê khai, cấp quyền sử dụng đất là giấy tờ giả, nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Đồng thời, bà C cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh bà Nguyễn Thị H1 có quyền sở hữu hợp pháp thửa đất tranh chấp trên, nên không có cơ sở chấp nhận đối với yêu cầu của bà C.
[2.3] Các đương sự thống nhất với sơ đồ đo đạc, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
[3] Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ yêu cầu của bà Trần Thị C với lý do “Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Tại tình huống án lệ số 38/2020/AL với tình huống án lệ như sau “Sau khi tài sản là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đã được phân chia bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì có người khác (không phải là đương sự trong vụ án đó) khởi kiện đòi quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đó” và giải pháp pháp lý theo án lệ là “Trường hợp này, Tòa án không thụ lý vụ án mới. Người có yêu cầu đòi quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của pháp luật”.
Tại Quyết định của Bản án phúc thẩm số 133/2015/DS-PT, ngày 04/8/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp tuyên xử không chấp nhận kháng cáo, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P..., nhưng tại nội dung quyết định này không tuyên công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 1441, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho ông Nguyễn Văn V. Nên đối với trường hợp này bà C vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất trên là phù hợp. Nên đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát yêu cầu đình chỉ giải quyết vụ án như trên là chưa phù hợp nên không chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị C phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá là 6.667.000đ. Bà Nguyễn Thị C2 đã nộp và chi xong.
[5] Án phí: Do bà Trần Thị C thuộc trường hợp được miễn tiền án phí và có đơn xin miễn tiền án phí, nên bà C không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 155, Điều 166 của Bộ luật Dân sự;
- Khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 24 Điều 3, Điều 203 của Luật Đất đai;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C đối với ông Nguyễn Văn V về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn V trả lại thửa đất số 1441, tờ bản đồ số 03, loại đất CLN, đo đạc thực tế là 1.916,8m², trong phạm vi các mốc M3, M8, M7, M6, M4 về M3, đất tọa lạc tại xã B, huyện C, Đồng Tháp.
- Ông Nguyễn Văn V được tiếp tục quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 1441, tờ bản đồ số 03, loại đất CLN, đo đạc thực tế là 1.916,8m², trong phạm vi các mốc M3, M8, M7, M6, M4 về M3, đất tọa lạc tại xã B, huyện C, Đồng Tháp.
Đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án và phải chịu các khoản thu theo quy định pháp luật (nếu có).
(Kèm sơ đồ đo đạc ngày 04/9/2024 của Trung tâm K1 và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/11/2023 và ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp được miễn theo quy định.
Về chi phí tố tụng:
Bà Trần Thị C phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá là 6.667.000đ. Bà C đã nộp và chi xong.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Tâm |
Bản án số 258/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự - quyền sử dụng đất
- Số bản án: 258/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự - Quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T/C QSDĐ
