|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 258/2023/HS-ST Ngày: 16-11-2023. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyên, ông Lại Hữu Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 254/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 270/2023/QĐXXST-HS ngày 19/10/2023 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Hồng N; Giới tính: N1; Sinh năm 2000 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi đăng ký thường trú: E6/14 Tổ F, Khu phố E, Thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: B9/8, Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Nguyễn Thành H1 và bà Cao Thị Hồng P; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2023 đến nay (có mặt).
* Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Hồng N: Luật sư Nguyễn Văn T - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
-
Họ và tên: Nguyễn Ngọc H2; Giới tính: N1; Sinh năm 1993 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: B9/8 ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn H3 và bà Nguyễn Thị Ư; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2023 đến nay (có mặt).
* Bị hại: Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: B9/8 ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Lê Trung T2, sinh năm 1985; Nơi cư trú: ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
-
Ông Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1989 (vắng mặt)
-
Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1961 (vắng mặt)
Ông Nguyễn Văn T3 và ông Nguyễn Văn N2 cùng nơi cư trú: B12/23C tổ A, ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc H2 và Nguyễn Hồng N là bạn bè, cả hai ở chung với nhau tại nhà trọ địa chỉ B, ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 29/01/2023, Nguyễn Ngọc H2 cho bà Hoàng Thị T1 (ở cùng dãy nhà trọ với H2) vay số tiền 10.000.000 đồng với thoả thuận mỗi ngày bà T1 trả cho H2 số tiền 500.000 đồng trả trong 24 ngày. Sau khi trả được 12 ngày, bà T1 không có khả năng trả tiếp thì H4 tính số tiền bà T1 còn nợ là 10.000.000 đồng, đồng thời cho bà T1 vay thêm số tiền 5.000.000 đồng nên tổng số tiền bà T1 nợ H2 là 15.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày bà T1 trả cho H2 số tiền 800.000 đồng trả trong 24 ngày. Sau đó bà T1 trả tiền cho H2 được 7 ngày thì không có khả năng trả nên bỏ đi khỏi nhà trọ. Ngày 21/5/2023, bà T1 về nhà trọ trả cho H2 số tiền 2.000.000 đồng tiền lãi. Đồng thời, hai bên thống nhất bà T1 còn nợ H2 số tiền 11.000.000 đồng (giảm 4.000.000 đồng), bà T1 hứa đến ngày 24/5/2023 sẽ trả tiếp cho H2 số tiền 5.000.000 đồng, số tiền 6.000.000 đồng qua tháng tiếp theo sẽ trả.
Ngày 24/5/2023, bà T1 điều khiển xe mô tô biển số 94F1-141.778 về phòng trọ và dựng xe trước cửa phòng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H2 không thấy bà T1 đưa tiền nên nhắn tin kêu Nguyễn Hồng N qua kiểm tra bà T1 có về phòng trọ không. N biết bà T1 đang ở phòng trọ nên báo cho H2 biết. H2 kêu N lấy ổ khóa để khóa bánh xe của bà T1 lại để không cho bà T1 bỏ đi khỏi nhà trọ và để H2 gặp bà T1 nói chuyện. Nghe lời H2, N lấy ổ khoá bằng kim loại khoá đĩa thắng trước xe máy bà T1. Sau đó, H2 mượn xe mô tô (không rõ biển số) của Nguyễn Văn T3 chạy về phòng trọ gặp bà T1. Tại đây, cả 2 xảy ra cãi nhau nên H2 đi về phòng trọ của H2 lấy 01 cây dao tự chế lưỡi bằng kim loại màu trắng và 01 khúc gỗ (phần đầu có gắn nhiều đinh sắt) mang qua phòng trọ của bà T1, N cũng đi theo. Khi tới phòng trọ của bà T1. H2 đưa cây dao tự chế cho N. Lúc này, bà T1 thấy H2 và N cầm hung khí nên bỏ chạy vô phòng trọ, khóa trái cửa. H2 và N cầm dao và cây gỗ đập vào cửa uy hiếp tinh thần bà T1. Sau đó, cả hai mang con dao và cây gỗ quay về nhà trọ cất giấu.
Ngay sau đó, N tiếp tục lấy con dao cầm trên tay phải đi qua phòng trọ bà T1, bà T1 thấy sợ nên đóng cửa phòng lại. N đi đến trước cửa phòng bà T1 dùng dao đập 01 cái vào cửa phòng trọ. Lúc này, H2 kêu N đưa chìa khóa để H2 mở chìa khóa mà lúc đầu N dùng để khóa xe mô tô biển số: 94F1-141.78 của bà T1 để H2 chiếm đoạt chiếc xe mô tô của bà T1. Do xe hết xăng không chạy được nên H2 kêu N chạy xe Sirius (xe H2 mượn của T3) đẩy H2 ngồi trên xe mô tô biển số: 94F1-141.7 vừa chiếm đoạt được của bà T1. Cả hai đẩy xe đến nhà Nguyễn Văn T3 (tại địa chỉ B, Ấp B, xã T, huyện B) định gửi xe nhưng T3 không có ở nhà nên H2 gửi xe mô tô biển số: 94F1-141.78 cho ông Nguyễn Văn N2 (cha của T3).
Sau khi sự việc xảy ra, chị T1 đến Công an xã T để trình báo sự việc. Công an xã T mời H2 và N2 về làm việc khai nhận toàn bộ hành vi như trên, cơ quan Công an tiến hành thu giữ vật chứng xe mô tô biển số: 94F1-141.78, lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thụ lý theo thẩm quyền.
Kết quả định giá tài sản số 2226/KL-HĐĐGTS ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện B kết luận: Xe mô tô biển số 94F1-141.78 giá 10.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Nguyễn Ngọc H2 và Nguyễn Hồng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp lời khai bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 240/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Hồng N về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với hành vi dùng dao và khúc cây gỗ của Nguyễn Ngọc H2 và Nguyễn Hồng N đập vào cửa phòng của bà Hoàng Thị T1 do tài sản thiệt hại không định giá được nên không có căn cứ xử lý H2 và N về hành vi “Huỷ hoại hoặc Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Đối với hành vi bà Hoàng Thị T1 vay tiền H2, tuy nhiên quá trình điều tra do lãi suất và số tiền thu lợi bất chính chưa đến 30.000.000 đồng nên chưa đủ căn cứ xử lý H2 về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Đối với ông Nguyễn Văn N2 không biết xe mô tô biển số 94F1-141.78 mà H2 mang đến để gửi do H2 và N2 chiếm đoạt của bà T1 nên không có căn cứ xử lý ông N2.
Đối với Nguyễn Văn T3 khi cho H2 mượn xe mô tô (không rõ biển số) nhưng không biết H2 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên không xử lý T3 vai trò đồng phạm.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H2 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;
- + Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;
- Vật chứng thu giữ, đề nghị xử lý như sau:
- + Đối với 01 xe mô tô biển số 94F1-141.78 bị chiếm đoạt. Cơ quan điều tra xác minh xe này do ông Lê Trung T2 đứng tên chủ sở hữu. Ông T2 là chồng của bà Hoàng Thị T1 đưa xe cho bà T1 sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã giao trả cho T1 vào ngày 05/8/2023 nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
- + Đề nghị tịch thu tiêu huỷ các công cụ phương tiện phạm tội gồm: 01 con dao bằng kim loại; 01 khúc cây gỗ; 01 khoá kèm 01 chìa khoá.
- Về dân sự: Bà Hoàng Thị T1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường. Đối với gạch ốp cửa phòng bị H2 và N dùng khúc cây và dao tự chế đập nhưng thiệt hại không lớn nên bà T1 cũng không có yêu cầu bồi thường gì.
* Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hồng N - Luật sư Nguyễn Văn T trình bày và đề nghị như sau: thống nhất nội dung vụ án, tội danh, khung hình phạt như cáo trạng đã truy tố. Thống nhất tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên toà đối với bị cáo N nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ như sau: tại phiên toà các bị cáo tự nguyện cấn trừ số tiền mà bị hại vay của bị cáo H2 còn nợ nhằm để khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại nên cho các bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Ngoài ra, đề nghị xem xét điều kiện phạm tội của bị cáo là có phần lỗi của bị hại nợ tiền không không trả đầy đủ. Do các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo N được hưởng mức án dưới khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo N 05 năm tù.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Hồng N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Nguyễn Hồng N đồng ý với luận cứ bào chữa và đề nghị của Luật sư T. Bị cáo Nguyễn Ngọc H2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các bị cáo, đương sự, bị hại và được thẩm vấn tại phiên tòa có căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Ngày 24/5/2023, tại nhà trọ địa chỉ B ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh các bị cáo Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Hồng N đã có hành vi sử dụng hung khí là dao tự chế bằng kim loại, cây gỗ có gắn đinh sắt dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực tấn công bị hại bà Hoàng Thị T1 làm cho bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự và ngay sau đó các bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là xe mô tô biển số 94F1-141.78 thuộc quyền quản lý sử dụng hợp pháp của bị hại. Căn cứ kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B thì tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 01 xe mô tô trị giá 10.000.000 đồng. Do đò, hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Hồng N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, các bị cáo biết việc cướp tài sản hợp pháp của người khác là trái với quy định của pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Hồng N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017). Các bị cáo sử dụng hung khí là dao tự chế bằng kim loại, cây gỗ có gắn đinh sắt đe dọa, tấn công bị hại là thuộc trường hợp sử dụng phương tiện nguy hiểm. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại c điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng là có căn cứ phù hợp pháp luật. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Hồng N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017) giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho các bị cáo. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi sử dụng hung khí đe doạ dùng vũ, dùng vũ lực không gây thiệt hại trực tiếp tài sản bị chiếm đoạt nhưng có gây thiệt hại về tài sản khác đập vỡ các tấm gạch ốp tường cửa phòng trọ của bị hại (bị hại không yêu cầu bồi thường và giám định thiệt hại) nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017) như cáo trạng đã truy tố và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
[6] Trong vụ án này các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có đồng phạm nhưng không có sự câu kết chặt chẽ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi của từng bị cáo. Trong đó, bị cáo Nguyễn Ngọc H2 là người chủ mưu khởi xướng việc phạm tội và là người thực hành tích cực; Bị cáo Nguyễn Hồng N tham gia với vai trò là người thực hành tích cực là người trực tiếp thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực, lấy tài sản.
[7] Về vật chứng bị thu giữ gồm:
[7.1] Đối với 01 xe mô tô biển số 94F1-141.78 bị chiếm đoạt. Cơ quan điều tra xác minh xe này do ông Lê Trung T2 (ông T2 là chồng của bà Hoàng Thị T1) đứng tên chủ sở hữu. Ông T2 giao xe này cho bà T1 quản lý, sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã giao trả cho bà T1 là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7.2] Đối với 01 con dao bằng kim loại; 01 khúc cây gỗ; 01 khoá kèm 01 chìa khoá. Xét thấy các vật chứng này là công cụ phương tiện phạm tội nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về dân sự: Tại phiên tòa bị hại bà Hoàng Thị T1 vắng mặt nhưng hồ sơ thể hiện bị hại bà Hoàng Thị T1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Đối với trình bày, đề nghị của người bào chữa cho bị cáo N và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy: Như phân tích trên, việc phạm tội của các bị cáo mang tính chất manh động côn đồ, ý thức chiếm đoạt tài sản của các bị cáo rất cao thể hiện qua việc khoá xe của bị hại lại rồi nhiều lần mang hung khí đến phòng trọ của bị hại sử dụng hung khí tấn công đe doạ tấn công bị hại để lấy tài sản và hung khí làm phương tiện phạm tối các bị cáo đã chuẩn bị từ trước khi phạm tội. Đối với tình tiết giảm nhẹ theo điển b khoản 1 Điều 51 Bộ luật mà Luật sư T đề nghị Hội đồng xử áp dụng cho các bị cáo là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Từ những căn cứ trên xét thấy đề nghị của Luật sư T là không có căn cứ đề Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về mức hình phạt cho các bị cáo là chưa tương xứng với mức độ hành vi của các bị cáo gây ra.
[10] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H2 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2023.
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N 08 (tám) năm tù tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2023.
- * Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
- * Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- * Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu huỷ: 01 con dao bằng kim loại; 01 khúc cây (gỗ, một đầu có gắn nhiều đinh bằng kim loại); 01 ổ khoá kèm 01 chìa khoá. Tất các các vật chứng được niêm phong.
(Tất cả vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2023 giữa Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí: Mỗi bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, đương sự, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Đương sự, bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Dũng |
Bản án số 258/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về cướp tài sản
- Số bản án: 258/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Ngọc, Nguyễn Ngọc Hiếu
