|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 258/2023/HS-ST.
Ngày: 07-11-2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Quyền và Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
Thư ký phiên toà: Nguyễn Văn Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Duy Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 205/2023/TLST-HS ngày 12/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2023/QĐXXST-HS ngày 13/9/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Võ Ngọc T, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1997, N sinh: T, Phú Yên.
Nơi thường trú: Thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Võ Văn T1 sinh năm 1973 và bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1977; Vợ: Tống Thị Kim C sinh năm 1997; Có 01 con Võ Ngọc Q Hiên sinh năm 2020; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không .
Bị tạm giữ từ ngày 28/3/2023; tạm giam từ ngày 31/03/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
2. Họ và tên: Võ Văn V, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1998, N sinh: T, Phú Yên.
Nơi thường trú: Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: 361/11 đường M, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 10/12; Con ông: Võ Văn T1 sinh năm 1973 và bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1977; Vợ: Viềng Thị Y sinh năm 1994; Con: Chưa có; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không .
Bị tạm giữ từ ngày 28/3/2023; tạm giam từ ngày 31/03/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
Người tham gia tố tụng khác:
- - Bà Lê Thị M, sinh năm 1989
- Địa chỉ: 1 H, phường N, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
- - Ông Hoàng Anh T2, sinh năm 1975
- Địa chỉ: Lô A, MBQH D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Ông Trịnh Văn Đ, sinh năm 1984
- Địa chỉ: Lô A, MBQH D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Nguyễn Đoàn Bảo N2, sinh năm 2006
- - Anh Nguyễn Hoằng Q1, sinh năm 1981
- Địa chỉ: Lô A, MBQH D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/03/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T phối hợp với Đoàn kiểm soát thuộc Trung tâm T4 phát hiện xe ôtô Hyundai i10 màu bạc, BKS: 51G - 52547 do Võ Ngọc T điều khiển đang di chuyển đến địa điểm Lô A75 trên đường T, phường T, TP T có lắp đặt 01 bộ thiết bị thu phát sóng di động giả (BTS giả) đang hoạt động gồm: (1)Thiết bị kim loại hình chữ nhật màu đen kích thước (45x25x10)cm, không có nhãn hiệu, nguồn gốc, xuất sứ, trên mặt trước của thiết bị có các cổng nguồn, cổng Ethernet, cổng wifi, cổng lắp ANT, nút nguồn màu xanh lá, nút khởi động thiết bị màu bạc, bên hông của thiết bị có dán giấy màu trắng ghi các thông tin: V/N:4 Carrier; P/N: HLT22010141, WIFI:HI-LINK_220141, Password: 88888888, GSM: Tx1:27 Rx1:40 Tx2:28 Rx2:40, LTE0: Tx53 Rx:40 LTE1: Tx47 Rx:40; (2) Anten hình vuông mặt trên bằng nhựa màu trắng, mặt dưới bằng kim loại màu xanh có dán chữ UP kích thước cạnh: 15cm x cao: 05cm; (3) Máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude màu đen, S/N: 8FSHMJ2 có chứa phần mềm “Terminal” để điều khiển thiết bị; (4) Bộ chuyển đổi nguồn Solar Power Inverter màu đồng, hình chữ nhật kích thước (20.5 x 12 x 07)cm.
Khoảng đầu tháng 02/2023, khi T đang thuê xe ôtô để làm dịch vụ lái xe G thì em trai ruột là Võ Văn V bàn bạc thống nhất với T chạy xe ôtô đi phát tin nhắn cho người Trung Quốc tên “P”. V thống nhất với “P” một ngày phát tán được từ 50.000 đến 60.000 tin nhắn thì sẽ nhận được 2.500.000đ. T đưa xe ôtô cho V lắp bộ thiết bị phát tán tin nhắn lên xe và hướng dẫn T cách sử dụng. Bộ thiết bị lắp đặt trên xe ôtô của T có chức năng xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông của nhà mạng V1, V2 gây can nhiễu tần số vô tuyến điện làm mất kết nối thuê bao với BTS nhà mạng chính thống, đồng thời phát sóng mạnh để "lừa" các thuê bao điện thoại kết nối vào thiết bị BTS giả, phát tán tin nhắn có nội dung được cài đặt sẵn để gửi đến các thuê bao điện thoại của 02 nhà mạng trên xung quanh khu vực đặt bộ thiết bị.
Sau đó, đối tượng “P” nhắn tin với T trực tiếp bảo T đi phát tán tin nhắn ở các khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và các tỉnh phía Nam. Được vài ngày thì “P” bảo hai anh em chạy phát tin nhắn trong khu vực phía Nam không hiệu quả nên bảo T phải chạy từ Hồ Chí Minh ra Hà Nội theo Quốc lộ A, mỗi tỉnh phát tin nhắn 01 ngày, T đi phát tin nhắn theo chỉ đạo của P. Quá trình chạy phát tin nhắn ra Hà Nội máy hoạt động không tốt nên P có bảo Võ Văn V bay ra Hà Nội đưa cho T 02 anten màu trắng để khắc phục và tiếp tục xâm nhập mạng viễn thông phát tán tin nhắn.
Ngày 23/3/2023, T vào nhà người quen ở N, Thanh Hóa chơi. Đến sáng ngày 25/3/2023, T chạy xe từ N ra thành phố T trên trục đường Q, vào khoảng 06 giờ sáng T dừng xe lấy bộ thiết bị phát tán tin nhắn để lắp đặt theo hướng dẫn trước đó của V, rồi cài đặt nội dung tin nhắn phát tán theo nội dung “P” nhắn tin cho T qua ứng dụng telegram. Sau khi thiết lập xong T chạy vòng vòng trên nhiều trục đường trong thành phố T, thành phố S để bộ thiết bị xâm nhập mạng viễn thông V5, V2 và phát tán tin nhắn đến các thuê bao hai nhà mạng này xung quanh các khu vực mà xe ôtô của T chạy qua. P có gửi cho T 02 nội dung tin nhắn để T phát tán trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa gồm: (1) Tên người gửi: “ket ban”, nội dung tin nhắn: “bạn độc thân bạn li hôn tham gia để kết nối với hàng ngàn người giống bạn www.henho.site”; tuy nhiên ban đầu T đã nhìn nhầm và để tên người gửi là “hẹn ho” và đã chỉnh sửa lại khi “P” phát hiện ra; (2) Tên người gửi: “hẹn ho”, nội dung tin nhắn: “Cô chủ quán nét cá tính, thích tập yoga cơ thể dẻo dai mềm mại, đáp ứng được mọi nhu cầu, thích cảm giác mạnh. Đăng ký ngay: j998.co”. T có thấy nội dung tin nhắn phát tán và hướng dẫn truy cập đường dẫn đến trang website nhưng T chưa truy cập trang mạng này.
Ngày 28/03/2023 cả hai anh em là Võ Ngọc T và Võ Văn V nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân và muốn được hưởng sự khoan hồng của pháp luật nên đã đầu thú tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T.
Các bị can khai: Khoảng tháng 01/2023, V từ Campuchia về Việt Nam sống tại thành phố Hồ Chí Minh lúc đó V thuê xe ôtô để làm lái xe G, quá trình lái xe Grab V3 có gặp một người tên “P” người Trung Quốc. Trên xe “P” có nói chuyện với V3 bằng tiếng Việt, nói sinh năm 1985. P thường hay đi xe của V3 di chuyển các quận thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian sau “P” có gọi điện cho V3 bảo có “App” muốn V3 chạy quảng cáo trả tiền hàng ngày, V3 hỏi cụ thể cách làm thì “P” nói có thiết bị để V3 bỏ trên xe ôtô chạy quảng cáo. Nếu đồng ý làm, “P” sẽ gửi máy qua rồi hướng dẫn. V3 hỏi nếu làm một ngày “P” trả bao nhiêu? “P” bảo V3 tính xem một ngày thuê xe, tiền xăng bao nhiêu thì V3 nói chi phí hết khoảng 1.500.000đ có khi hơn nếu chạy liên tục, V3 hỏi “P” về máy quảng cáo thì “P” bảo máy của “P” là trạm gốc phát tin nhắn đến các thuê bao số điện thoại. Sau đó “P” và V3 thống nhất với nhau một ngày trả 3.000.000đ, nhưng V3 phải chạy đủ số lượng phát 65.000 tin nhắn. Khoảng 15 ngày sau V3 nhận được bộ thiết bị “P” gửi qua chuyển phát. Sau khi V3 lấy về gọi điện cho “P” hướng dẫn V3 lắp đặt, cài đặt thiết bị trên xe ôtô Việt thuê.
Hàng ngày, thường từ 07 giờ sáng đến 21 giờ 30 phút V3 điều khiển xe ôtô chạy trên các tuyến đường thuộc các quận trong TP Hồ Chí Minh; thành phố B, Đồng Nai; tỉnh Bình Dương để bộ V5, M1 và phát tán tin nhắn đến các thuê bao hai nhà mạng này xung quanh các khu vực mà xe ôtô của V3 chạy qua. Được vài ngày sau khi làm công việc trên, “P” có nói V3 tìm thêm người nên V3 có giới thiệu cho “P” anh trai của V3 là Võ Ngọc T, sau đó “P” chuyển cho V3 thêm 01 bộ thiết bị như của V3, V3 nhận được và trực tiếp lắp đặt trên xe ôtô của T, hướng dẫn sử dụng cho anh T.
V3 bắt đầu chạy xe để thiết bị xâm nhập mạng viễn thông V5, M1 phát tán tin nhắn bắt đầu từ khoảng cuối tháng 01 đầu tháng 02/2023 đến khoảng giữa tháng 02/2023 “P” Bảo Việt phát tin nhắn trong thành phố Hồ Chí Minh không hiệu quả nữa nên Bảo V4 chạy ra Hà Nội, đi qua tỉnh nào thì chạy vào trung tâm thành phố tỉnh đó phát tin nhắn, V4 không đi được nên nói anh trai là Võ Ngọc T đi phát tin nhắn quảng cáo. Còn V4 vẫn sử dụng bộ thiết bị phát tin nhắn trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh được vài hôm thì không hiệu quả nên “P” Bảo Việt nghỉ. Sau đó, V4 được người ở bên Campuchia liên hệ qua làm việc ở sòng bài nên đầu tháng 03/2023 V4 xuất cảnh qua Campuchia làm việc.
V4 được “P” hướng dẫn nhận tiền thông qua ứng dụng Binance, P chuyển cho V4 tiền ảo “USDT”, ban đầu cứ làm ngày nào thì “P” trả tiền cho V4 ngày đó theo thỏa thuận là 3.000.000đ/ngày, sau đó khi quen rồi thì cứ làm 2-3 ngày thì “P” trả tiền, có lúc thiếu tiền V4 nhắn với “P” chuyển tiền cho V4 ứng trước tiền công của 2-3 ngày. Ngoài chốt công của V4 thì V4 có chốt ngày công phát tin nhắn của cả T với “P” để “P” chuyển tiền qua cho V4. Khi nhận được tiền USDT thì V4 thực hiện bán tiền USDT luôn trên sàn Binance để rút tiền mặt (VNĐ) về tài khoản ngân hàng T5 của V4 số tài khoản: 06393791501 rồi Việt chuyển khoản trả tiền công của anh trai V4 vào tài khoản ngân hàng A của Võ Ngọc T. Tổng số tiền khi làm phát tin nhắn V4 được khoảng 45.000.000đ, T được khoảng 60.000.000đ, số tiền này V4, T đã tiêu xài cá nhân hết.
Về vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ gồm: 01 Thiết bị kim loại hình chữ nhật màu đen kích thước (45 x 25 x 10)cm; 01 Anten hình vuông mặt trên bằng nhựa màu trắng; 01 Máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude màu đen; 01 Bộ chuyển đổi nguồn Solar Power Inverter màu đồng; 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Redmi, model: M2004J19G; 01 điện thoại di động màu xanh nhãn hiệu Redmi, model: 2201117TG.
Tại kết luận giám định số 3491/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của V6 kết luận:
- - Mẫu vật gửi giám định là một hệ thống thiết bị giả trạm thu phát sóng BTS.
- - Tính năng các thiết bị chính trong hệ thống:
- Thiết bị điện tử hình hộp chữ nhật, mầu đen (Kích thước khoảng 45cm x 25cm x10cm) là bộ xử lý trung tâm của hệ thống, được sử dụng để phát tán tin nhắn đến các thuê bao di động trong vùng phủ sóng của hệ thống.
- Thiết bị hình hộp, mầu trắng- xanh (kích thước khoảng 15cm x 15cm x 05cm) là Ă –ten định hướng, được sử dụng để mở rộng phạm vi phát tán tin nhắn.
- Máy tính xách tay được sử dụng để cấu hình, điều khiển hệ thống.
- - Nguyên lý hoạt động Hệ thống quét môi trường mạng xung quanh vị trí đặt thiết bị, lấy thông số trạm BTS thực của nhà mạng để thiết lập trạm BTS giả.
- - Phương thức hoạt động Trạm BTS giả này phát tín hiệu có công suất lớn hơn công suất phát của các trạm BTS thật để thu hút các thuê bao di động trong khu vực kết nối đến, từ đó thu thập, phân tích số nhận dạng thiết bị di động quốc tế (IMEI) và số nhận dạng thuê bao di động quốc tế (IMEI) của các thuê bao di động. Sau đó, hệ thống thực hiện gửi hàng loạt tin nhắn đã được cài đặt sẵn trên hệ thống đến các thuê bao di động đang kết nối đến trạm BTS giả.
Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, sau khi xét hỏi và tranh luận, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số: 126/CTr-VKS-P2 ngày 11/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Võ Ngọc T và Võ Văn V về tội “Tội xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác” quy định tại khoản 1 Điều 289 Bộ luật Hình sự.
Ngày 07/4/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe ôtô nhãn hiệu Huyndai I10 màu bạc BKS 51G-525.47 cho chủ sỡ hữu là ông Trần Đức T3.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Ngọc T và Võ Văn V về tội “Tội xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác”.
- * Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 289; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt các bị cáo Võ Ngọc T và Võ Văn V mỗi bị cáo từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.
- * Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Truy thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu đồng) từ Võ Văn V và 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) từ Võ Ngọc T.
* Về vật chứng vụ án:
01 Thiết bị kim loại hình chữ nhật màu đen kích thước (45 x 25 x 10)cm; 01 Anten hình vuông mặt trên bằng nhựa màu trắng; 01 Bộ chuyển đổi nguồn Solar Power Inverter màu đồng thì tịch thu tiêu hủy vì những thiết bị này không có nguồn gốc, chỉ có tác dụng làm nhiễu sóng và can thiệp trái phép vào mạng viễn thông.
01 Máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude màu đen; 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Redmi, model: M2004J19G; 01 điện thoại di động màu xanh nhãn hiệu Redmi, model: 2201117TG thì tịch thu sung công quỹ.
*Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326 về mức thu án phí, lệ phí buộc mỗi bị cáo Võ Ngọc T và Võ Văn V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để gia đình sớm được về lo làm ăn trả nợ và hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên. VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, truy tố; biên bản đầu thú; Các kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/3/2023, Võ Ngọc T đã có hành vi sử dụng hệ thống thiết bị giả trạm phát sóng BTS, xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông V2 và V5 trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá nhằm phát tán các tin nhắn theo yêu cầu của đối tượng khác. Võ Văn V là đồng phạm giúp sức, có hành vi kết nối đối tượng thuê, lấy thiết bị, lắp đặt, hướng dẫn, nhận tiền thù lao cho Võ Ngọc T. V thống nhất với “Phong người Trung Quốc” một ngày phát tán được từ 50.000 đến 60.000 tin nhắn thì sẽ nhận được 2.500.000đ, nếu một ngày trả 3.000.000đ thì V phải chạy đủ số lượng phát 65.000 tin nhắn. Tổng số tiền làm phát tin nhắn Việt được 45.000.000đ, T được 60.000.000đ số tiền này V và T đã tiêu xài cá nhân hết.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến lĩnh vực quản lý nhà nước về lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, tạo điều kiện làm phát sinh một số loại tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm vì tư lợi nên phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp.
Vai trò của các bị cáo trong vụ án theo Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự thì đây thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, Võ Ngọc T là người trực tiếp đi xe ôtô phát tán các thông tin, sử dụng hệ thống thiết bị giả trạm phát sóng BTS, còn V khởi sướng là người kết nối đối tượng thuê, lấy thiết bị, nhận tiền công chia cho T nên các bị cáo có vai trò ngang nhau.
Động cơ mục đích của các bị cáo vì muốn có tiền để tiêu sài cá nhân nên đã có hành vi phạm tội.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- + Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có tiền án, tiền sự.
- + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.
- + Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú, gia đình bà nội đang thờ cúng hai bác là liệt sỹ đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, các bị cáo là anh em ruột trong cùng một gia đình, nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, hành vi phạm tội làm ảnh hưởng đến lĩnh vực công nghệ thông tin là loại phạm tội mới ở địa phương nên cần phải xử phạt tù và xử phạt nghiêm để giáo dục, cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.
Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng tên P đã cung cấp thiết bị, thuê các bị cáo thực hiện hành vi xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông để phát tán tin nhắn nên không có căn cứ xử lý như trong hồ sơ là phù hợp.
Truy thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu đồng) từ Võ Văn V và 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) từ Võ Ngọc T vì đây là tiền do phạm tội mà có là phù hợp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội nhằm mục đích tư lợi cá nhân nên cần phải phạt tiền là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
+ Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ đã xử lý Hội đồng xét xử miễn xét.
- 01 Thiết bị kim loại hình chữ nhật màu đen kích thước (45 x 25 x 10)cm; 01 Anten hình vuông mặt trên bằng nhựa màu trắng; 01 Bộ chuyển đổi nguồn Solar Power Inverter màu đồng thì tịch thu tiêu hủy vì những thiết bị này không có nguồn gốc, chỉ có tác dụng làm nhiễu sóng và can thiệp trái phép vào mạng viễn thông.
- Tịch thu phát mại sung công 01 Máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude màu đen; 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Redmi, model: M2004J19G; 01 điện thoại di động màu xanh nhãn hiệu Redmi, model: 2201117TG đây là công cụ dùng vào việc phạm tội.
[6] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là phù hợp và có căn cứ pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 289; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
*Tuyên bố các bị cáo: Võ Ngọc T và Võ Văn V phạm tội “Tội xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác”.
Xử phạt các bị cáo:
- Võ Ngọc T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 28 tháng 3 năm 2023. Và bị phạt tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
- Võ Văn V 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 28 tháng 3 năm 2023. Và bị phạt tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
Truy thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu đồng) từ Võ Văn V và 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) từ Võ Ngọc T.
*Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 Thiết bị kim loại hình chữ nhật màu đen kích thước (45 x 25 x 10)cm; 01 Anten hình vuông mặt trên bằng nhựa màu trắng; 01 Bộ chuyển đổi nguồn Solar Power Inverter màu đồng.
Tịch thu phát mại sung công 01 Máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude màu đen; 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Redmi, model: M2004J19G; 01 điện thoại di động màu xanh nhãn hiệu Redmi, model: 2201117TG .
Các vật chứng trên đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 224/2023/TV-CTHADS ngày 28/9/2023 giữa Phòng PC02 Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
*Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo: Võ Ngọc T và Võ Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
*Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 07 tháng 11 năm 2023).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Đại Long |
Bản án số 258/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tội xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác
- Số bản án: 258/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đi tuyên truyền tin nhắn
