Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2576/2024/DS-ST

Ngày: 20 – 6 – 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Chi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 103/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2868/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3650/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam).

Trụ sở: Số I, đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Hà V (Giấy ủy quyền số 199/2023/GUY-MAFC ngày 23/5/2023 của Công ty T1 (Việt Nam) và Giấy ủy quyền ngày 11/01/2024 của Công ty L), bà V vắng mặt theo Đơn xin vắng mặt ngày 21/5/2024.

Thường trú: Tổ dân phố V, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

Địa chỉ liên lạc: Phòng số 401, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Lý Quốc T, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số H Đường số A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 11/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) có bà Huỳnh Thị Hà V là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:

Ngày 23/10/2021, Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty T1) ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 2553133 về việc cấp tín dụng cho ông Lý Quốc T với khoản vay trị giá 25.051.000 đồng, lãi suất 41%/năm. Để bảo hiểm cho khoản vay này, ông Lý Quốc T đã ký kết với Công ty TNHH T1 (Map life) Giấy chứng nhận bảo hiểm bảo an tín dụng số G16M/0181810 ngày 25/10/2021, phí bảo hiểm là 1.551.000 (một triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn) đồng. Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cho ông T, số tiền giải ngân được Công ty T1 chuyển vào tài khoản cá nhân của ông T mở tại Ngân hàng T2. Theo hợp đồng tín dụng, ông T có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán theo phương thức trả góp hàng tháng với số tiền là 1.813.471 đồng trong kỳ hạn 30 tháng, kể từ ngày 15/11/2021 đến ngày 15/4/2024. Sau khi được giải ngân đến nay ông T chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty T1 ASSET được 12 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán 11.233.000 đồng. Từ ngày 21/01/2023 đến nay ông T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty T1. Công ty T1 đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng. Đồng thời, Công ty T1 cũng đã gửi đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho ông T biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, bà Nguyễn Kiều O vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho Công ty T1. Nay Công ty T1 yêu cầu ông T trả cho Công ty T1 ASSET tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 20/6/2024 là 45.213.759 đồng. Trong đó:

  • Dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 23.857.848 đồng.
  • Tiền lãi trong hạn: 8.560.755 đồng.
  • Tiền lãi quá hạn: 11.852.644 đồng.
  • Số tiền lãi chậm trả: 942.512 đồng.

Ngoài ra Công ty T1 còn yêu cầu ông Lý Quốc T phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với yêu cầu cung cấp bản sao hợp đồng tín dụng có chữ ký của người vay và người có thẩm quyền ký đóng dấu, Công ty T1 xác định hợp đồng tín dụng giữa Công ty T1 với ông T là hợp đồng được giao kết thông qua hình thức ký kết hợp đồng điện tử. Hợp đồng điện tử này được các bên giao kết thông qua việc ông T đồng ý các điều khoản quy định trên Hợp đồng và xác nhận ký hợp đồng bằng cách nhập mã OTP được gửi từ hệ thống qua SMS hoặc email. Sau khi kiểm tra OTP hợp lệ Công ty TNHH H (là đơn vị đã đăng ký Hoạt động Cung cấp dịch vụ Chứng thực hợp đồng điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam) sẽ khởi tạo chữ ký số, thực hiện ký hợp đồng điện tử và lưu trữ hợp đồng điện tử, thông tin khoản vay. Trong đó: "Chữ ký số” là một dạng chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng. Việc biến đổi này được tạo ra bằng đúng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai trong cùng một cặp khoá và bảo đảm sự toàn vẹn nội dung của thông điệp dữ liệu theo thỏa thuận tại Điều 1.05 Hợp đồng đối tác cung cấp và sử dụng dịch vụ chữ ký số công cộng FPT-CA số 2020.123/HDKT/BK6 giữa Công ty T1Công ty TNHH H. Dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng FPT-CA thuộc sở hữu của Công ty TNHH H đã được Bộ T3 cấp phép theo Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng số 527/GP-BTTTT ngày 12 tháng 10 năm 2015, thể hiện tại Điều 1.01 Hợp đồng đối tác cung cấp và sử dụng dịch vụ chữ ký số công cộng FPT-CA số 2020.123/HDKT/BK6. Quy trình cho vay được thể hiện trong Quy trình nghiệp vụ, Phụ lục 02 hợp đồng.

Bị đơn ông Lý Quốc T vắng mặt trong quá trình tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được ý kiến trình bày của ông T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:

  • Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ trình tự, thủ tục luật định.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) khởi kiện bị đơn ông Lý Quốc T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn có địa chỉ tại thành phố T. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T1 là bà Huỳnh Thị Hà V vắng mặt nhưng có nộp đơn đề nghị vắng mặt; bị đơn ông Lý Quốc T vắng mặt không lý do, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã thực hiện thủ tục niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với ông T. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn Công ty T1 yêu cầu bị đơn ông Lý Quốc T trả tiền nợ tạm tính đến ngày tạm tính đến ngày 20/6/2024 là 45.213.759 đồng. Trong đó:

  • Dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 23.857.848 đồng.
  • Tiền lãi trong hạn: 8.560.755 đồng.
  • Tiền lãi quá hạn: 11.852.644 đồng.
  • Số tiền lãi chậm trả: 942.512 đồng.

Ngoài ra Công ty T1 còn yêu cầu ông Lý Quốc T phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định:

[3.1] Về hiệu lực của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 2553133 ngày 23/10/2021: Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ ý kiến trình bày của nguyên đơn Công ty T1, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có đầy đủ cơ sở để xác định: Ngày 23/10/2021, ông Lý Quốc T có giao dịch với Công ty T1 thông qua Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 2553133 ngày 23/10/2021. Xét về mặt hình thức, hợp đồng được xác lập bằng văn bản, do người có thẩm quyền của Công ty T1 và ông Lý Quốc T tự nguyện giao kết. Về phía ông Lý Quốc T tuy không trực tiếp ký tên vào hợp đồng nhưng có giao kết hợp đồng dưới hình thức chữ ký số. Điều 8 Nghị định 130/2018/NĐ-CPđịnh về giá trị pháp lý của chữ ký số như sau: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CP. Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CPđịnh chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau:

  • “(1) Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khóa công khai ghi trên chứng thư số đó.
  • (2) Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai ghi trên chứng thư số do một trong các tổ chức sau đây cấp:
    • Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia;
    • Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ;
    • Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;
    • Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng của các cơ quan, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng của các cơ quan, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số chuyên dùng được quy định tại Điều 40 Nghị định 130/2018/NĐ-CP
  • (3) Khóa bí mật chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký”.

Xét thấy, chữ ký số của ông Lý Quốc T được tạo ra trong thời gian Giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FP-CA ngày 12/12/2023 có hiệu lực, được cung cấp bởi Công ty TNHH H là đơn vị được thực hiện dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng FPT-CA theo Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng số 527/GP-BTTTT ngày 12 tháng 10 năm 2015 của Bộ T3 nên có giá trị pháp lý. Xét về nội dung, Hợp đồng tín dụng số 2636353 ngày 23/11/2021 không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thể hiện ý chí tự nguyện của các bên khi tham gia giao dịch, phù hợp quy định tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Hợp đồng tín dụng số 2636353 ngày 23/11/2021 có hiệu lực pháp luật.

[3.2] Nguyên đơn Công ty T1 yêu cầu bị đơn ông Lý Quốc T trả tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán 23.857.848 đồng, Hội đồng xét xử nhận định: Theo sao kê tài khoản do Ngân hàng T2 cung cấp thể hiện vào ngày 25/10/2021, Công ty T1 đã chuyển số tiền nợ gốc 23.500.000 đồng vào tài khoản của ông Lý Quốc T. Theo trình bày của Công ty T1, kể từ ngày được giải ngân đến nay ông Lý Quốc T chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty T1 ASSET được 12 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán 11.233.000 đồng. Ngày 20/01/2023 là ngày thanh toán cuối cùng. Từ ngày 21/01/2023 đến nay ông T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty T1. Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do ông T không có mặt trong quá trình tiến hành tố tụng mặc dù đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được các tài liệu, chứng cứ do ông T xuất trình. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do Công ty T1 giao nộp, căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử buộc ông T hoàn trả ngay số tiền vốn gốc 23.857.848 (hai mươi ba triệu tám trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm bốn mươi tám) đồng cho Công ty T1, giao nhận tiền tại Công ty T1 hoặc cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[3.3] Nguyên đơn Công ty T1 yêu cầu bị đơn ông T trả tiền lãi trong hạn 8.560.755 đồng, tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày 20/6/2024: 11.852.644 đồng, số tiền lãi chậm trả: 942.512 đồng, Hội đồng xét xử nhận định: Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông T chỉ thực hiện nghĩa vụ trả tiền đến ngày 20/01/2023. Từ ngày 21/01/2023 không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Nay Công ty T1 yêu cầu ông T trả tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi là phù hợp quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.4] Tổng số tiền ông T phải trả cho Công ty T1, tạm tính đến ngày 20/6/2024 là 45.213.759 đồng, giao nhận ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Công ty T1 hoặc cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[3.5] Công ty T1 yêu cầu ông T thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ. Hội đồng xét xử nhận định: Yêu cầu của Công ty T1 là đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty T1 và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết đối với Giấy chứng nhận bảo hiểm số 8756026 ngày 24/11/2021 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 370, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Luật Thi hành án dân sự;

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam):

Buộc ông Lý Quốc T thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền còn nợ tạm tính đến ngày tạm tính đến ngày 20/6/2024 là 45.213.759 (bốn mươi lăm triệu, hai trăm mười ba triệu, bảy trăm năm mươi chín) đồng. Trong đó:

  • Dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 23.857.848 đồng.
  • Tiền lãi trong hạn: 8.560.755 đồng.
  • Tiền lãi quá hạn: 11.852.644 đồng.
  • Số tiền lãi chậm trả: 942.512 đồng.

Thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, giao nhận tiền tại Công ty T1 (Việt Nam) hoặc cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Lý Quốc T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì ông T phải thanh toán lãi, phí phát sinh mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty T1 (Việt Nam) thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty T1 (Việt Nam).

2.Về án phí:

- Ông Lý Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.260.688 (hai triệu, hai trăm sáu mươi nghìn, sáu trăm tám mươi tám) đồng, ông T chưa nộp tiền án phí.

- Hoàn trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí 831.848 (tám trăm ba mươi mốt triệu, tám trăm bốn mươi tám nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000434 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

3. Về quyền kháng cáo:

- Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trúc Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2576/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 2576/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa công ty T1 và ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger