Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 257/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 – 4 – 2024

V/v ly hôn Thanh-Vũ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Luỹ và ông Nguyễn Đinh Phùng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST- HNGĐ, ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 95/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Kim T, sinh năm 1991; nơi cư trú: số A, tổ A, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, xin vắng mặt.

Bị đơn: Anh Trần Thanh V, sinh năm 1979; nơi cư trú: số A, tổ A, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện ngày 12/12/2023 và lời khai của nguyên đơn chị Đặng Thị Kim T trình bày: Sau khi tìm hiểu về tình cảm chị T và anh Trần Thanh V đi đến hôn nhân, không tổ chức đám cưới và có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang ngày 25 tháng 8 năm 2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau về việc chị T mượn tiền của người khác để lo cho gia đình mà không cho anh V biết, khi anh V biết thì vợ chồng cãi nhau và anh V đánh chị T. Sau đó thỉnh thoảng anh V lại nhắc chuyện chị T vay nợ, nên vợ chồng lại tiếp tục cự cãi và anh V lại đánh chị, mâu thuẫn kéo dài đến tháng 10/2023 anh V bỏ lên Thành phố Hồ Chí Minh và vợ chồng ly thân đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, chị xin ly hôn anh V.

Chị T và anh V có 02 con chung tên Trần Đặng Minh H, sinh ngày 21/4/2017 và Trần Đặng Thanh N, sinh ngày 13/02/2011, hiện đang sống cùng chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị và anh V không có tài sản chung, nợ chung.

Bị đơn anh Trần Thanh V vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

  • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do là vi phạm Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Đặng Thị Kim T được ly hôn anh Trần Thanh V. Chị T và anh V có 02 con chung, giao chị T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Chị T không yêu cầu nên anh V không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị T và anh V không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    2. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung giải quyết vụ án:
    1. Về hôn nhân: Chị T và anh V tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân là hợp pháp. Anh chị phát sinh mâu thuẫn tùe năm 2017 kéo dài đến nay, giữa anh chị vi phạm nghĩa vụ chia sẽ, yêu thương, chung sống với nhau được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh V có hành vi bạo lực gia đình và không có thiện chí hàn gắn. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
    2. Về con chung:
    3. Chị T và anh V có 02 con chung tên Trần Đặng Minh H, sinh ngày 21/4/2017 và Trần Đặng Thanh N, sinh ngày 13/02/2011. Hiện nay chị T là người trực tiếp nuôi con và các cháu có nguyện vọng sống chung với chị T, để ổn định cuộc sống của các cháu nên Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị T

không yêu cầu nên không buộc anh V phải cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
  1. Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 322 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Kim T.

  1. Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Kim T được ly hôn anh Trần Thanh V.
  2. Về con chung: Chị T và anh V có 02 con chung tên Trần Đặng Minh H, sinh ngày 21/4/2017 và Trần Đặng Thanh N, sinh ngày 13/02/2011 hiện đang sống với chị T. Giao 02 con chung cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu nên không buộc anh V phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Chị T và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh V đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

    Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.

  4. Về tài sản chung: Không
  5. Về nợ: Ghi nhận chị T trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
  6. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006540 ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh V không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - UBND thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Rỡ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 257/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 257/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Txin ly hôn V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger