|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 257/2024/DS-ST
Ngày: 14/9/2024
“Tranh chấp thừa kế tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà
Các hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hoàng Tuấn
Bà Phan Thị Phượng
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ 10 đến 14/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Phú xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 111/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2022, về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụa án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 183/2024/QĐST- DS ngày 30 tháng 3 năm 2024; Thông báo về việc tiếp tục tiến hành phiên toà số 1164/2024/TB-TTPT ngày 10 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 536/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số B, Tổ H, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn D: Ông Lương Tường H – Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A. Địa chỉ: Khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
-
Bị đơn: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
-
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1950. Địa chỉ: Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
-
Bà Lê Thị Thanh T1, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
-
Bà Lê Thị N1, sinh năm 1954. Địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Tuyết N, Lê Thị Thanh T1 và Lê Thị N1: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
-
Ông Lê Ngọc P, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
-
Bà Lê Thị Thanh H1, sinh năm 1958 (Chết ngày 20/5/2014)
Những người thừa kế của bà Lê Thị Thanh H1, gồm:
-
Ông Trần Ngọc L, sinh năm 1957; (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
-
Ông Trần Doãn Q, sinh năm 1981; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
-
Bà Trần Thị Hải Y, sinh năm 1983; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
-
Bà Trần Thị Hải Â, sinh năm 1993. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: 69/13, hẻm F, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
-
-
Ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1965. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
-
Ông Võ Văn T2, sinh năm 1953. Địa chỉ: Số B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
-
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Cha ông Lê Ngọc V (sinh năm 1925, chết 2003), mẹ Phạm Thị N2 (sinh năm 1929, chết 2012), cha mẹ có 11 người con gồm: Lê Thị Tuyết N, Lê Văn K (chết 1972, 22 tuổi), Lê Thị N1, Lê Văn L1 (Chết lúc 8 tuổi), Lê Văn S (Chết khoảng năm 1963, 2 tuổi), Lê Văn K1 (Chết khoảng năm 1964, 2 tuổi), Lê Văn D, Lê Thị Thanh H1 (chết năm 2014), Lê Thị Thanh T1, Lê Ngọc P, Lê Thị Thanh T. Trong quá trình chung sống cha mẹ ông có tạo lập được một số tài sản như sau: Diện tích đất 5.254m² thuộc tờ bản đồ số 03, thửa số 191, 192, 215, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số 00294QSDĐ/bF do UBND huyện C cấp ngày 02/8/1990 cho ông Lê Ngọc V đứng tên. Đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Diện tích đất 1.536m² thuộc tờ bản đồ số 60, thửa số 13, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số 01856QSDĐ/hF do UBND huyện C cấp ngày 10/8/2000 cho ông Lê Ngọc V đứng tên. Đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Các tài sản trên là tài sản chung của bà Phạm Thị N2 và ông Lê Ngọc V.
Tuy nhiên, ông V chết không để lại di chúc, ngày 19/4/2009 mẹ ông là bà Phạm Thị N2 lập di chúc để lại cho ông diện tích đất ở ngang 07m, dài 27m (từ mé lộ, mặt tiền đường nông thôn) và diện tích 1.697m² (mương rạch cát). Di chúc có chứng thực của UBND xã B. Sau khi bà N2 chết anh em tiến hành thực hiện chia tài sản theo di chúc nhưng bà T không thống nhất do sợ anh em bán. Do đó, ông yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo di chúc của bà N2 lập ngày 19/4/2009, cho ông được hưởng diện tích đất ngang 07m, dài 27m (từ mé lộ, mặt tiền đường nông thôn) và diện tích 1.697m² (mương rạch cát).
Tuy nhiên, sau khi đo đạc thực tế thì phần diện tích đất đang tranh chấp như sau: đất ở hiện tại ông đang sử dụng theo di chúc thuộc các vị trí 16, 20, 105, 85 diện tích 164,4m² thuộc Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 60, thửa số 13) ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Công ty Đ; Đối với phần diện tích ở mương rạch cát có sự chồng lấn giữa diện tích ông chỉ dẫn trên thực tế và diện tích cha ông được cấp giấy, theo đó phần diện tích đất theo hiện trạng mà cha mẹ ông sử dụng từ trước đến nay lại được cấp cho ông Nguyễn Văn Q1 310,4m² thuộc các điểm 6, 38, 37, của ông Võ Văn T2 4,2m² thuộc các điểm 34, 40, 17, 18 thuộc Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 03, thửa số 191, 192. Hệ thống BĐ-22) ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Công ty Đ. Phần diện tích đất này khi thực hiện đo đạc có các bên giáp ranh đã thống nhất ranh và ký tên vào biên bản, trong đó có ông Nguyễn Văn Q1 và ông Võ Văn T2. Do đó, ông yêu cầu Tòa án cho ông được hưởng phần diện tích mẹ ông để lại cho ông theo di chúc với diện tích đo đạc theo hiện trạng thực tế là 1.668,1m² thuộc các điểm 6, 38, 33, 39, 14, 18, 35, 22, 36 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 03, thửa đất số 191, 192. Hệ thống BĐ-22) ngày 02/02/2023 của Công ty TNHH Đ. Trong đó có phần diện tích của ông Q1 và ông T2 được cấp giấy.
Do bà N1 lúc mới mấy tháng tuổi thì cha mẹ đã cho vợ chồng dì 7 làm con nuôi, sống chung với vợ chồng dì 7 đến nay, khi lớn thì được vợ chồng dì 7 gả cưới, có hưởng tài sản của vợ chồng dì 7 nên ông không đưa vào làm người thừa kế từ đầu vụ án.
Biên bản ghi lời khai ngày 31/7/2023 và 10/8/2023 bà Lê Thị Thanh T trình bày: Cha mẹ bà là ông V và bà N2 có các con gồm Lê Thị Tuyết N, Lê Văn K, Lê Thị N1, Lê Văn L1, Lê Văn S, Lê Văn K1, Lê Văn D, Lê Thị Thanh H1, Lê Thị Thanh T1, Lê Ngọc P, Lê Thị Thanh T. Trong đó, Lê Văn K, Lê Văn L1, Lê Văn S và Lê Văn K1 chết khi còn nhỏ không có vợ con. Di chúc này có thật trên thực tế nhưng không hợp pháp vì đây là tài sản chung của cha mẹ nhưng một mình mẹ định đoạt toàn bộ là không đúng, trong di chúc không có chữ ký của bà N và bà N1, việc ký tên được thực hiện tại nhà nên Ủy ban nhân dân xã B chứng thực là không đúng. Nếu ông D tiếp tục sử dụng thì bà đồng ý cho ông D tiếp tục sử dụng, còn sang tên cho ông D thì bà không đồng ý. Vì đây là đất phủ thờ của cha mẹ ông bà để lại, nếu sang tên thì ông D có thể chuyển quyền cho người khác.
Bà Lê Thị Thanh T đại diện cho bà Lê Thị Tuyết N, Lê Thị Thanh T1, Lê Thị N1 và cá nhân bà trình bày như sau:
Tài sản trên là tài sản riêng của ông V nhưng mẹ bà để lại di chúc là không đúng quy định của pháp luật, việc ủy ban chứng thực là không đúng vì di chúc này sau khi được bà N2 và những người ký trong di chúc trước sau đó mới đến Ủy ban nhân dân xã B thực hiện chứng thực nên đề nghị tuyên di chúc ngày 19/4/2009 không có giá trị pháp lý nên yêu cầu hủy bỏ di chúc và chia phần tài sản nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Lý do bà cho rằng đây là tài sản riêng của ông V là do nghe mấy chị nói lại là do ông nội để lại cho ông V, chứ không phải sở hữu chung của gia đình. Do dì 7 không có con nên cha mẹ đồng ý cho bà N1 vào ở với vợ chồng dì 7 để chăm sóc, nuôi dưỡng, cũng có đi về nhà cha mẹ ruột ở, nhưng bà Nguyên sinh S1 chủ yếu với dì và chăm sóc vợ chồng dì 7 đến khi chết, đến khi gả cưới thì dì 7 là người đại diện cưới hỏi. Việc thỏa thuận về ở với vợ chồng dì 7 lúc bà N1 khoảng 10 tuổi. Không biết ai là người viết di chúc, bà T không có chở bà N2 đến Uỷ ban nhân dân xã để chứng thực di chúc, còn việc khám sức khỏe thì bà T có chở bà N2 đi khám bệnh và khám sức khỏe khi thực hiện di chúc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc P1 trình bày: Di chúc là bà T1 viết, khám sức khỏe bà T dẫn đi, bà T trực tiếp chở bà N2 đến Ủy ban nhân dân xã C. Di chúc do bà N2 ký tên, thời điểm này bà N2 hoàn toàn minh mẫn, các anh chị em thống nhất có ký vào di chúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D. Đối với việc bà N1 được cho làm con nuôi thống nhất với trình bày của ông D. Tài sản trên là do cha ông mua lại của ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn M đã chết nhưng không có chứng cứ về việc mua bán, chứ không phải của ông nội để lại, đây là tài sản chung của cha mẹ nhưng cha đại diện đứng tên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q1, ông Võ Văn T2 vắng mặt các lần Tòa án triệu tập, không có văn bản trình bày ý kiến.
Ông Trần Ngọc L, ông Trần Doãn Q, bà Trần Thị Hải Y, bà Trần Thị Hải  là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị Thanh H1 vắng mặt các lần Tòa án triệu tập nhưng có văn bản trình bày ý kiến như sau: Thống nhất theo di chúc của cha mẹ, ông bà để lại, đồng thời xin vắng mặt trong các buổi hòa giải, đối chất, công khai chứng cứ và xét xử.
Tại phiên tòa
Ông Lê Văn D trình bày: Về hàng thừa kế như đã trình bày; Sau khi mẹ ông chết thì những người được hưởng theo di chúc thỏa thuận phân chia với nhau, sau khi phân chia thì phần của ai thì người đó quản lý sử dụng. Sau đó thỏa thuận bán lại cho ông, trong đó phần của bà T đã bán lại cho ông với giá 70.000.000₫ hiện ông đang quản lý, sử dụng, việc mua bán có làm hợp đồng mua bán tay không có công chứng, chứng thực do đất chưa sang tên cho ông. Năm 2021 các anh em thỏa thuận thống nhất, giờ các anh chị em tuổi đã cao nên muốn sang tên, tách thửa cho xong để ai được hưởng thì có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng. Đến năm 2022 khi thực hiện thủ tục sang tên thì bà T
lại không chịu ký tên. Ông xác định đây là tài sản chung của cha mẹ nhưng do cha ông đại diện đứng tên, vì phần đất này trước đây cha mẹ ông mua của ông M từ năm 1958 nhưng hiện nay không còn giấy tờ mua bán này, ông M cũng đã chết, không có chứng cứ gì để chứng minh việc này. Sau đó cha mẹ ông kê khai cấp giấy như người sử dụng đất ổn định lâu dài trước năm 1975 và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận. Cha ông chết không để lại di chúc, được sự thống nhất của mẹ và các anh chị em trong nhà nên mẹ ông đã thực hiện di chúc ngày 19/4/2009, người trực tiếp viết di chúc là bà T1, còn bà T là người dẫn mẹ đi khám sức khỏe, lúc này mẹ vẫn còn hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt. Sau khi bà T1 viết xong thì mẹ ông ký tên, ghi họ tên, rồi ông lần lượt đưa cho các anh chị em ký vào phần cuối của di chúc, riêng bà N thì bà N không có nhu cầu nhận tài sản của cha mẹ, còn bà N1 đã được cho dì 7 làm con nuôi và cũng không có nhu cầu nhận tài sản, anh chị em đã thống nhất nhưng do sơ suất, tin tưởng nên không đưa bà N, bà N1 ký. Sau khi tất cả mọi người ký vào di chúc thì ông mới đến đưa cho Ủy ban nhân dân xã B chứng thực, thời điểm chứng thực các anh chị em không có mặt tại Ủy ban nhân dân xã B. Trong trường hợp di chúc có hiệu lực một phần thì ông đề nghị được hưởng toàn bộ phần đất theo di chúc, đã được đo đạc thực tế và ông sẽ trả lại giá trị kỷ phần cho người được hưởng theo pháp luật. Vì các tài sản này hiện do ông đang quản lý, sử dụng, phần đất ở đã có nhà của ông, còn phần đất vườn thì ông đang trồng xoài. Ông tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng, án phí nếu có, ông là người trên 60 tuổi nên ông xin được miễn án phí và ông đã có làm đơn. Khi nộp hồ sơ khởi kiện thì Tòa án có mời hòa giải đối thoại, bà T đề nghị trả lại tiền bán đất cho ông nhưng ông không đồng ý nên không hòa giải thành và chuyển sang tố tụng. Các nội dung khác ông vân giữ nguyên.
Bà Lê Thị Thanh T, đồng thời đại diện cho bà N1, bà N, bà T1 trình bày: Ngày 19/4/2009 mẹ bà có làm di chúc, di chúc như nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa, ông D đưa từng người ký, mẹ có ký hay không thì bà không biết chứ không phải ký trước mặt Ủy ban nhân dân xã. Tài sản là của cha nhưng một mình mẹ quyết định là không đúng. Việc bà bán phần đất của bà được hưởng theo di chúc là do ông D không có đường đi, sau đó ông D có khởi kiện bà có đề nghị trả lại tiền nhưng ông D không đồng ý nên Tòa thụ lý giải quyết cho đến nay. Bà yêu cầu hủy bỏ di chúc vì bà N1, bà N không có phần chia trong di chúc. Di chúc được chứng thực sau ngày các bên ký vào di chúc là không đúng. Việc trước đây bà khai đây là tài sản chung của cha mẹ là do sau khi cha bà chết thì tài sản này mới trở thành tài sản chung của cha mẹ. Di chúc do bà T1 viết, còn bà thì chở mẹ bà đi khám sức khỏe để thực hiện di chúc cho hợp lệ. Khi ký vào di chúc thì bà có đọc lại rồi sau đó mới ký tên, bà ký để cho mẹ bà vui. Bà chỉ yêu cầu hủy bỏ di chúc và giữ nguyên tài sản đứng tên cha chứ không chia theo pháp luật cho ai hết. Đối với yêu cầu độc lập của bà N1 thì bà xin rút lại toàn bộ. Bản thân bà cũng như đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Tuyết N, Lê Thị Thanh T1, bà Lê Thị N1 chỉ yêu cầu Tòa án không công nhận di chúc và không yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, giữ nguyên giấy tờ cho ông V đứng tên, hiện trạng của ai sử dụng thì tiếp tục sử dụng. Đối với các yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của bà
cũng như những người bà đại diện Tòa án đã trả đơn là không có khiếu nại, cũng không có yêu cầu giải quyết, nếu có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
Ông Lê Ngọc P trình bày: Thống nhất với trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn D. Ngoài ra, trên phần đất của bà T được chia có chuồng heo của ông, bà T yêu cầu ông đập chuồng heo để giao đất, thì ông đã đập chuồng heo và giao đất cho bà T. Bà T đã được hưởng tài sản, nhận tài sản và bán lại cho ông D, lấy tiền xong giờ lại không cho người khác hưởng là không đúng. Phần của ông, của bà T1, bà H1 cũng đã bán lại cho ông D.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn D trình bày: Thống nhất với trình bày của ông Lê Văn D. Đồng thời tranh luận như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận di chúc, cho ông Lê Văn D được hưởng di sản thừa kế theo di chúc, đã được đo đạc thực tế theo bản vẽ, hiện trạng theo bản vẽ đã có ông T2, ông Q1 ký giáp ranh và vắng mặt các lần Tòa án triệu tập. Di chúc của bà N2 để lại di sản là di chúc hợp pháp, vì tài sản bà N2 để lại là tài sản chung của ông V, bà N2, vì khi kê khai cấp giấy thì đất thuộc trường hợp không có giấy, thời điểm này ông V, bà Nghĩa là vợ chồng hợp pháp, các tờ khai đăng ký quyền sử dụng đất ông V khai tên ông với bà N2. Sau khi ông V chết bà N2 để lại di chúc định đoạt luôn phần của ông V nhưng được các con ông V, bà N2 thống nhất, trường hợp bà N không có ký tên vào tờ di chúc thì đề nghị xem xét cho ông D trả lại giá trị kỷ phần cho bà N được hưởng phần di sản của ông V, cho ông D được hưởng toàn bộ hiện vật vì các tài sản đã do ông D quản lý, sử dụng từ lâu và trên đất có nhà và cây trái của ông D. Đối với trường hợp của bà N1 đã được cho dì 7 của bà N1 làm con nuôi từ nhỏ, có mối quan hệ nuôi dưỡng thực tế mặc dù không có thực hiện thủ tục nuôi con nuôi nhưng là con nuôi thực tế theo hướng dẫn của Thông tư 81/TANDTC ngày 24 tháng 7 năm 1981 của Tòa án nhân dân tối cao nên bà N1 không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông V, bà N2. Bên cạnh đó, bà N1 đã được hưởng di sản của cha mẹ nuôi nên không được hưởng di sản của ông V, bà N2. Ngoài ra, sau khi cha mẹ chết thì anh chị em đã thống nhất phân chia di sản theo di chúc, theo đó bà T, bà T1, ông P, bà H1 đã nhận và bán lại cho ông D, có hợp đồng mua bán và được bà T, ông P thừa nhận. Do bà T rút lại yêu cầu độc lập của bà Lê Thị N1 nên đề nghị đình chỉ đối với yêu cầu của bà Lê Thị N1.
Bà Lê Thị Thanh T tranh luận: Thống nhất bà N1 có nhận tài sản của cha mẹ nuôi là dì dượng 7 nhưng bà N1 là con ruột của cha mẹ thì phải được hưởng tài sản của cha mẹ. Đây là vụ án tranh chấp thừa kế nên đề nghị không xem xét các tranh chấp mua bán đất trong vụ án này nếu có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu về việc tuân theo pháp luật và quan điểm về việc giải quyết vụ án:
-
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Ông T2, ông Q1 không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị HĐXX: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận một phần di chúc, không công nhận một phần của di chúc là kỷ phần của bà N được hưởng của ông V, ông D được hưởng toàn bộ phần tài sản theo di chúc, phần diện tích được hưởng theo đo đạc thực tế, ông D phải trả lại giá trị kỷ phần cho bà N; Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Lê Thị N1; Về chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về tố tụng:
-
Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Ông Lê Văn D khởi kiện yêu cầu công nhận di chúc, cho ông được hưởng tài sản theo di chúc. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp thừa kế tài sản. Bà Lê Thị Thanh T có nơi cư trú tại huyện C nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
-
Về tài liệu, chứng cứ: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Không có đương sự nào phản đối đối với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó Tòa án sẽ xem xét làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
-
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Lê Văn D, ông Lê Ngọc P, Luật sư Lương Tường H và bà Lê Thị Thanh T có mặt tại phiên tòa; Ông Trần Ngọc L, ông Trần Doãn Q, bà Trần Thị Hải Y, bà Trần Thị Hải  vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn Q1 ông Võ Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Ngày 14/9/2024 Tòa tuyên án ông Lê Văn D, ông Lê Ngọc P, bà Lê Thị Thanh T có mặt; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt không có lý do.
Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án, tuyên án là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Về thời hiệu: Hội đồng xét xử thấy rằng, năm 2003 ông V chết, năm 2012 bà N2 chết, năm 2022 ông Lê Văn D khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo di chúc. Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Do đó, thời điểm yêu cầu chia di sản thừa kế của ông V, bà N2 vẫn còn thời hiệu theo quy định.
-
-
Về nội dung:
-
Xét về hàng thừa kế của ông V, bà N2:
Ông V chết năm 2003, bà N2 chết năm 2012, ông bà có các con chung gồm: Lê Thị Tuyết N, Lê Văn K (chết 1972, 22 tuổi), Lê Thị N1, Lê Văn L1 (Chết lúc 8 tuổi), Lê Văn S (Chết khoảng năm 1963, 2 tuổi), Lê Văn K1 (Chết khoảng 1964, 2 tuổi), Lê Văn D, Lê Thị Thanh H1 (chết năm 2014), Lê Thị Thanh T1, Lê Ngọc P, Lê Thị Thanh T. Ông Lê Văn K, ông Lê Văn L1, ông Lê Văn S, ông Lê Văn K1 chết trước ông V, bà N2 nhưng không có vợ, con.
Đối với bà Lê Thị N1 theo các đương sự trình bày, cũng như biên bản xác minh của Tòa án thì bà Lê Thị N1 đã được cho vợ chồng bà Phạm Thị M1 làm con nuôi khi chưa được 10 tuổi. Căn cứ phần III của Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao quy định, “Con nuôi được thừa kế phải là con nuôi hợp pháp, tức là việc nuôi con nuôi phải được Ủy ban nhân dân cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch (Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình). Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp nhân dân chưa hiểu pháp luật cho nên chưa xin chính quyền công nhận và đăng ký vào sổ hộ tích việc nuôi con nuôi. Trong trường hợp này, nếu việc nhận con nuôi là ngay thẳng, cha mẹ đẻ của đứa trẻ hoàn toàn tự nguyện, việc nuôi dưỡng đứa trẻ được bảo đảm, thì coi là con nuôi thực tế. Con nuôi và bố mẹ nuôi có quyền thừa kế lẫn nhau. Con nuôi (hợp pháp hay thực tế) không được thừa kế theo luật đối với di sản của bố mẹ đẻ và anh, chị, em ruột”.
Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Lê Thị N1 đã được cho làm con nuôi, mặc dù không có thực hiện thủ tục nuôi con nuôi theo quy định nhưng bà Lê Thị N1 được cho làm còn nuôi một cách ngay thẳng, cha mẹ đẻ của bà Lê Thị N1 hoàn toàn tự nguyện, việc nuôi dưỡng bà Lê Thị N1 được bảo đảm thể hiện bà N1 đã sống chung với cha mẹ nuôi và được hưởng di sản của cha mẹ nuôi. Do đó, bà Lê Thị N1 được xác định là con nuôi thực tế của vợ chồng bà Phạm Thị M1. Chính vì vậy, bà Lê Thị N1 không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông V, bà N2. Hàng thừa kế thứ nhất của ông V được xác định như sau: bà Phạm Thị N2, ông Lê Văn D, bà Lê Thị Thanh H1, bà Lê Thị Thanh T1, ông Lê Ngọc P, bà Lê Thị Thanh T và bà Lê Thị Tuyết N; Hàng thừa kế thứ nhất của bà N2 gồm: ông Lê Văn D, bà Lê Thị Thanh H1, bà Lê Thị Thanh T1, ông Lê Ngọc P, bà Lê Thị Thanh T và bà Lê Thị Tuyết N. Ngoài ra, ông V, bà N2 không có con nuôi, con riêng.
Quá trình chuẩn bị xét xử bà Lê Thị Thanh H1 chết năm 2014 có hàng thừa kế thứ nhất gồm: Ông Trần Ngọc L (chồng), ông Trần Doãn Q (con ruột), bà Trần Thị Hải Y (con ruột) và bà Trần Thị Hải  (con ruột). Ngoài ra, bà Lê Thị Thanh H1 không có con nuôi, con riêng.
-
Xét nguồn gốc tài sản tranh chấp:
Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Ngọc V của Văn phòng Đ1 Chi nhánh C cung cấp, tại đơn đăng ký quyền sử dụng đất thể hiện tên chủ sử dụng đất là Lê Ngọc V và Phạm Thị N2. Ngoài ra, ngày 31/7/2023 và 10/8/2023 bà Lê Thị Thanh T còn trình bày lời khai xác định “đây là tài sản chung của cha mẹ bà nhưng một mình mẹ bà định đoạt toàn bộ là không đúng”. Ông Lê Ngọc P, ông Lê Văn D đều xác định tài sản theo di chúc là tài sản chung của ông Lê Ngọc V và bà Phạm Thị N2. Đối với những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Lê Thị Thanh H1 không phản đối việc xác định tài sản chung hay riêng của ông Lê Ngọc V và bà Phạm Thị N2 và đều thống nhất với di chúc của bà Phạm Thị N2. Điều này thể hiện những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Lê Thị Thanh H1 xác định đây là tài sản chung của ông Lê Ngọc V và bà Phạm Thị N2.
Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình 1987 quy định, “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung”. Tài sản theo di chúc phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông Lê Ngọc V và bà Phạm Thị N2, không có cơ sở xác định tài sản này ông Lê Ngọc V và bà Phạm Thị N2 được thừa kế riêng hay tặng cho riêng. Do đó, không có cơ sở xác định đây là tài sản riêng của người nào.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định các diện tích đất theo di chúc 19/4/2009, trong đó có phần đất ngang 07m, dài 27m (từ mé lộ, mặt tiền đường nông thôn) và diện tích 1.697m² (mương rạch cát). Tuy nhiên, khi đã được đo đạc thực tế diện tích được xác định như sau: diện tích 164,4m² thuộc các điểm 16, 20, 105, 85 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 60, thửa số 13) ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Công ty Đ; diện tích 1.668,1m² thuộc các điểm 6, 38, 33, 39, 14, 18, 35, 22, 36 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 03, thửa đất số 191, 192. Hệ thống BĐ-22) ngày 02/02/2023 của Công ty TNHH Đ. Mặc dù, phần diện tích đo đạc thực tế có một phần ông Nguyễn Văn Q1 được cấp giấy là 310,4m² thuộc các điểm 6, 38, 37 và của ông Võ Văn T2 4,2m² thuộc các điểm 34, 40, 17, 18. Tuy nhiên, khi đo đạc ông Nguyễn Văn Q1 và ông Võ Văn T2 xác định đúng hiện trạng và ký giáp ranh, Tòa án đã đưa ông Nguyễn Văn Q1, ông Võ Văn T2 vào tham gia tố tụng nhưng các ông vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, Hội động xét xử có cơ sở xác định các diện tích 164,4m² thuộc các điểm 16, 20, 105, 85 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 60, thửa số 13) ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Công ty Đ; diện tích 1.668,1m² thuộc các điểm 6, 38, 33, 39, 14, 18, 35, 22, 36 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 03, thửa đất số 191, 192. Hệ thống BĐ-22) ngày 02/02/2023 của Công ty TNHH Đ, là tài sản chung của ông Lê Ngọc V và bà Phạm Thị N2.
-
Xét yêu cầu độc lập của bà Lê Thị N1:
Bà Lê Thị N1 đề nghị Toà án xem xét giải quyết là xem xét lại tính hợp pháp của Tờ di chúc của bà Phạm Thị N2 ngày 19/4/2009, đề nghị không công nhận di chúc. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N1 tự nguyện rút lại toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Lê Thị N1. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu lập của bà Lê Thị N1, cụ thể yêu cầu Tòa án không công nhận di chúc ngày 19/4/2009 của bà Phạm Thị Nghĩa L2 phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Xét yêu cầu của bà Lê Thị Tuyết N, Lê Thị Thanh T1 và yêu cầu của bà Lê Thị Thanh T:
Hội đồng xét xử thấy rằng, các yêu cầu phải được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, sau khi Tòa án mở phiên tòa bà Lê Thị Thanh T, Lê Thị Tuyết N, Lê Thị Thanh T1 mới thực hiện yêu cầu là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 200, khoản 2 Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án đã trả lại yêu cầu và đã thông báo trả lại đơn yêu cầu nhưng không ai khiếu nại. Tại phiên tòa, bà Lê Thị Thanh T đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Tuyết N, Lê Thị Thanh T1 chỉ yêu cầu Tòa án không công nhận di chúc và không yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, giữ nguyên giấy tờ cho ông V đứng tên, hiện trạng của ai sử dụng thì tiếp tục sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đối với các yêu cầu của bà T, bà N, bà T1. Trường hợp có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
-
Xét về giá trị pháp lý của di chúc:
-
Xét về ý chí của bà Phạm Thị N2:
Hội đồng xét xử thấy rằng, Di chúc ngày 19/4/2009 do bà Phạm Thị N2 lập, phía dưới phần cuối của di chúc có mục “các con được nhận phần đất thổ cư” có ông Lê Văn D, bà Lê Thị Thanh H1, bà Lê Thị Thanh T1, ông Lê Ngọc P và bà Lê Thị Thanh T ký tên. Những người này đều xác định thời điểm bà Phạm Thị N2 lập di chúc vẫn còn minh mẫn, sáng suốt, việc lập di chúc là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định việc lập di chúc ngày 19/4/2009 của bà Phạm Thị Nghĩa L2 hoàn toàn tự nguyện, trong tình trạng sáng suốt, minh mẫn.
-
Xét về mục đích, nội dung của di chúc:
Bà Phạm Thị N2 lập di chúc để lại tài sản của bà và ông V sau khi bà chết. Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Phạm Thị N2 để lại di chúc định đoạt toàn bộ phần tài sản chung của bà với ông V là không đúng quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự 2005. Tuy nhiên, ông V chết năm 2003 thời điểm này đã phát sinh quyền thừa kế của những người thừa kế của ông V và di chúc bà Phạm Thị N2 lập để phân chia nhiều phần tài sản chung của ông V, bà N2 cho những người thừa kế và những người thừa kế của ông V gồm ông Lê Văn D, bà Lê Thị Thanh H1, bà Lê Thị Thanh T1, ông Lê Ngọc P và bà Lê Thị Thanh T đã ký tên vào di chúc, thể hiện sự thống nhất ý chí của mình về sự định đoạt của bà Phạm Thị N2 đối với phần di sản của ông V. Tuy nhiên, bà Lê Thị Tuyết N không có ký tên vào di chúc, bà Phạm Thị N2 định đoạt kỷ phần của bà Lê Thị Tuyết N là không đúng quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự 2005. Thấy rằng, mục đích của di chúc là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nội dung của di chúc có một phần, cụ thể là kỷ phần của bà Lê Thị Tuyết N mà bà Phạm Thị N2 định đoạt là vi phạm điều cấm của pháp luật nên phần này của di chúc không có hiệu lực pháp luật.
-
Xét về hình thức của di chúc:
Điều 649 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về hình thức của di chúc như sau: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình”.
Điều 657 Bộ luật dân sự 2005 quy định di chúc có công chứng hoặc chứng thực như sau: “Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc”.
Điều 658 Bộ luật dân sự 2005 quy định về thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn như sau: “Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây: 1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc; 2. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng”.
Hội đồng xét xử thấy rằng, di chúc ngày 19/4/2009 do bà Phạm Thị N2 lập, có chữ ký, chữ viết của bà Phạm Thị N2 và chữ ký của Lê Văn D, bà Lê Thị Thanh H1, bà Lê Thị Thanh T1, ông Lê Ngọc P và bà Lê Thị Thanh T. Di chúc có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã B nhưng các đương sự đều thừa nhận rằng việc chứng thực là sau khi các bên đã ký vào di chúc, thời điểm chứng thực không có mặt của những người có ký tên vào di chúc ngoại trừ ông D là người mang di chúc đi ký chứng thực. Do đó, việc chứng thực di chúc thực hiện không đúng quy định tại Điều 658 Bộ luật Dân sự 2005. Tuy nhiên, di chúc được lập thành văn bản không có chứng thực vẫn phù hợp với quy định tại Điều 649 của Bộ luật D1 sư 2005. Do đó, hình thức của di chúc ngày 19/4/2009 của bà Phạm Thị Nghĩa L2 phù hợp quy định của pháp luật.
-
Xét tính hợp pháp của toàn bộ di chúc:
Điều 634 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác".
Khoản 1 Điều 652 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật”.
Căn cứ vào quy định của pháp luật, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử nhận định như trên, Hội đồng xét xử thấy rằng thời điểm lập di chúc bà Phạm Thị N2 vẫn minh mẫn, sáng suốt; việc lập di chúc được thực hiện một cách tự nguyện; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật; Tuy nhiên, nội dung di chúc có một phần là kỷ phần của bà Lê Thị Tuyết N vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, di chúc ngày 19/4/2009 của bà Phạm Thị N2 vô hiệu một phần là kỷ phần của bà Lê Thị Tuyết N được hưởng của ông V. Cụ thể kỷ phần của bà Lê Thị Tuyết N như sau:
Diện tích (164,4m² : 2) = 82,2m² : 7 (kỷ phần) = 11,743m² X 1.300.000₫ = 15.265.900₫ (Mười lăm triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng)
Diện tích 1668,1m² : 2 = 834,05 : 7 (kỷ phần) = 119,15m² X 100.000₫ = 11.915.000đ (Mười một triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng).
Tổng cộng kỷ phần của bà Lê Thị Tuyết N trong phần tài sản tranh chấp là 27.180.900₫ (Hai mươi bảy triệu một trăm tám mươi nghìn chín trăm đồng).
Thấy rằng, phần diện tích đất nguyên đơn yêu cầu được hưởng hiện do nguyên đơn đang quản lý, sử dụng, phần diện tích theo kỷ phần bà N được hưởng không đủ diện tích tối thiểu tách thửa theo Quyết định số 19/2023/QĐ-UBND ngày 08/5/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh A. Theo đó, diện tích tối thiểu tách thửa đối với đất trồng lúa tại các xã là 1.000m², đất nông nghiệp còn lại là 500m². Do đó, giao cho ông D nhận hiện vật đối với kỷ phần của N và ông D phải có trách nhiệm hoàn giá trị cho bà N là phù hợp.
Bên cạnh đó, khi thực hiện đo đạc thực tế xác định được hiện trạng khu đất mà ông D đang quản lý sử dụng từ trước đến nay có một phần đất của ông Nguyễn Văn Q1 và ông Võ Văn T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ thể như sau, ông Nguyễn Văn Q1 310,4m² thuộc các điểm 6, 38, 37, của ông Võ Văn T2 4,2m² thuộc các điểm 34, 40, 17, 18 thuộc Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 03, thửa số 191, 192. Hệ thống BĐ-22) ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Công ty Đ. Do đó, Tòa án đã đưa ông Nguyễn Văn Q1 và ông Võ Văn T2 vào tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn Q1 và ông Võ Văn T2 nhưng các ông vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến. Mặt khác, khi thực hiện đo đạc hiện trạng thì các ông đã ký giáp ranh nên có thể xác định hiện trạng theo đo đạc là diện tích thực tế các bên đã sử dụng ổn định. Do đó, xem như ông Nguyễn Văn Q1 và ông Võ Văn T2 đã từ bỏ quyền lợi của mình. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định diện tích theo hiện trạng thực tế đã được đo đạc có phần diện tích của ông Nguyễn Văn Q1 và ông Võ Văn T2 được cấp là tài sản của ông V, bà N2.
Từ những phần tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn D. Công nhận một phần Di chúc ngày 19/4/2009 của bà Phạm Thị N2, không công nhận một phần di chúc đối với kỷ phần của bà N. Ông D được hưởng di sản thừa kế của ông V, bà N2 (bao gồm
kỷ phần của N mà ông D đã trả giá trị) gồm: diện tích 164,4m² thuộc các điểm 16, 20, 105, 85 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 60, thửa số 13) ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Công ty Đ; diện tích 1.668,1m² thuộc các điểm 6,38, 33, 39, 14, 18, 35, 22, 36 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 03, thửa đất số 191, 192. Hệ thống BĐ-22) ngày 02/02/2023 của Công ty TNHH Đ. Ông Lê Văn D phải trả giá trị cho bà Lê Thị Tuyết N là 27.180.900₫ (Hai mươi bảy triệu một trăm tám mươi nghìn chín trăm đồng).
Đối với các tài sản khác theo di chúc ngày 19/4/2009 và các vật kiến trúc trên đất mà đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nếu các đương sự có tranh chấp thì có thể giải quyết bằng vụ kiện khác.
-
-
Xét về chi phí tố tụng:
Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử có phát sinh chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và đo đạc tài sản tranh chấp là 13.600.001₫ (Mười ba triệu, sáu trăm nghìn, không trăm lẻ một đồng), trong đó chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), chi phí đo đạc là 11.600.001 (mười một triệu sáu trăm lẻ một đồng). Tuy nhiên, ông Lê Văn D tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông Lê Văn D đã nộp tạm ứng các chi phí tố tụng nên không phải nộp thêm.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Hội đồng xét xử thấy rằng, ông Lê Văn D và bà Lê Thị N1 đã trên 60 tuổi, thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn đề nghị được miễn án phí nên ông bà được miễn án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án. Bà Lê Thị N1 đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nên bà Lê Thị N1 được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng)
-
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
-
- Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 267; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
-
- Điều 634, Điều 649, Điều 652, Điều 657, Điều 658, Điều 659 Bộ luật Dân sự 2005;
-
- Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015;
-
- Khoản 5 Điều 113 Luật Đất đai 2003;
-
- Tiểu mục 1, mục A, Chương III Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao;
-
- Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Xử:
-
Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Lê Thị N1 về việc yêu cầu không công nhận di chúc của bà Phạm Thị N2 ngày 19/4/2009.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn D.
Công nhận một phần di chúc ngày 19/4/2009 của bà Phạm Thị N2.
Ông Lê Văn D được hưởng di sản thừa kế của bà Phạm Thị N2, ông Lê Ngọc V gồm: diện tích 164,4m² thuộc các điểm 16, 20, 105, 85 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 60, thửa số 13) ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Công ty Đ; diện tích 1.668,1m² thuộc các điểm 6, 38, 33, 39, 14, 18, 35, 22, 36 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 03, thửa đất số 191, 192. Hệ thống BĐ-22) ngày 02/02/2023 của Công ty TNHH Đ.
(Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 60, thửa số 13) ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Công ty Đ; Bản trích đo hiện trạng khu đất (trích đo từ tờ bản đồ số 03, thửa đất số 191, 192. Hệ thống BĐ-22) ngày 02/02/2023 của Công ty TNHH Đ là một phần của Bản án, không thể tách rời Bản án)
Ông Lê Văn D có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.
-
Ông Lê Văn D phải trả cho bà Lê Thị Tuyết N là 27.180.900₫ (Hai mươi bảy triệu một trăm tám mươi nghìn chín trăm đồng).
-
Về chi phí tố tụng:
Ông Lê Văn D phải chịu chi phí tố tụng là 13.600.001₫ (Mười ba triệu sáu trăm nghìn, không trăm lẻ một đồng), ông đã nộp đủ, không phải nộp thêm.
-
Về án phí:
Ông Lê Văn D được miễn án phí dân sự sơ thẩm;
Bà Lê Thị N1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Lê Thị N1 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005152 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
-
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Võ Văn Hoà |
Bản án số 257/2024/DS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 257/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản
