|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 257/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 - 7 - 2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo và ông Trần Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 168dân sự 162/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 228/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị T, sinh năm 1996; địa chỉ: bản Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Việt C, sinh năm 1986; địa chỉ: xóm Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An; hiện đang ở Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/03/2024 và bản tự khai đề ngày 26/5/2024, nguyên đơn chị Lương Thị T trình bày:
Chị Lương Thị T và anh Nguyễn Việt C yêu nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 06/12/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu chung sống, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đầm ấm, thời gian trở lại đây vợ chồng mâu thuẫn thường xuyên. Nguyên nhân do năm 2014 anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, đến cuối năm 2018 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn hơn vì không còn tin tưởng nhau, không có tiếng nói chung. Tình cảm vợ chồng không còn như trước, căng thẳng kéo dài, không thể hòa giải được. Nay chị T nhận thấy vợ chồng thân ai người đấy lo, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T và anh C được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 26/10/2013; cháu Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh ngày 10/6/2015; cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 19/12/2020. Hiện tại, 03 con chung đang ở với chị T. Nếu ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giao 03 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lương Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Việt C, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Lương Thị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh C ở Đài Loan. Theo chị T trình bày anh C vẫn thường xuyên liên lạc về với mẹ đẻ là bà Đậu Thị L; địa chỉ cư trú: xóm Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An và bà L biết địa chỉ cụ thể của anh C ở Đài Loan; đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho bà Đậu Thị L (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Việt C) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để bà L thông báo cho anh C và đề nghị anh C nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị T. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Giấy triệu tập phiên tòa tại nơi cư trú của anh C trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh C không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Lương Thị T và anh Nguyễn Việt C được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 26/10/2013; cháu Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh ngày 10/6/2015; cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 19/12/2020 cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lương Thị T hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Việt C hiện cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, anh C có địa chỉ cư trú tại xóm Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Việt C hiện đang ở Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Bà Đậu Thị L (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Việt C) cam kết sẽ thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu bà L cung cấp địa chỉ cụ thể của anh C ở Đài Loan nhưng bà không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh C trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lương Thị Thanh V mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Việt C vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.
[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T và anh Nguyễn Việt C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn, do năm 2014 anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, đến cuối năm 2018 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn hơn vì không còn tin tưởng nhau, không có tiếng nói chung. Nay chị T có nguyện vọng được ly hôn với anh C. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh C không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị T được ly hôn với anh C là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 26/10/2013; cháu Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh ngày 10/6/2015; cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 19/12/2020. Hiện tại, 03 con chung đang ở với chị T và chị T đề nghị Tòa án giao 03 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau ly hôn. Xét thấy, anh C hiện đang ở nước ngoài và chưa có ý kiến gì về việc nuôi con nên cần giao cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 26/10/2013; cháu Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh ngày 10/6/2015; cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 19/12/2020 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T chưa yêu cầu và anh C cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lương Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lương Thị T phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lương Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Việt C.
- Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 26/10/2013; cháu Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh ngày 10/6/2015; cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 19/12/2020 cho chị Lương Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Ngọc N, Ngọc T1 và Quỳnh A đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Lương Thị T chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Việt C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của các con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Lương Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012827 ngày 08 tháng 5 năm 2024.
3. Chị Lương Thị T có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án; anh Nguyễn Việt C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Hải |
5
Bản án số 257/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 257/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Lương Thị T-Nguyễn Việt C
