Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 19-8-2023

“v/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chất

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hạnh và ông Vũ Nguyên Đăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 296/TLST-HNGĐ ngày 19/6/2023 về việc Ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 210/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoài N, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Xóm G, thôn L, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1990; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Nhật Bản. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Hoài N trình bày:

Anh và chị Hoàng Thị C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 31/12/2019. Sau khi kết hôn được khoảng 1 tuần thì chị C đi du học tại Nhật Bản. Khoảng 01 năm đầu, anh và chị C vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Đầu năm 2021, sau khi chị C hoàn thành xong chương trình du học, anh có nói chuyện và bảo chị C về Việt Nam để hai vợ chồng cùng chung sống và làm ăn tại Việt Nam nhưng chị C không đồng ý. Từ đó vợ chồng anh đã xảy ra mâu thuẫn và không còn liên lạc với nhau nữa.

Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị C.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng anh không có nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Do anh N không cung cấp được địa chỉ của chị C ở Nhật Bản nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình chị C. Bà Lê Thị L (là mẹ đẻ chị C) trình bày: Bà không biết địa chỉ cụ thể của chị C ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên chị C vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình bà qua điện thoại. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị C biết. Quan điểm của chị C là do vợ chồng không còn tình cảm, chị và anh N đã không còn liên lạc với nhau từ năm 2021, nay anh N có đơn xin ly hôn, chị đồng ý. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự cơ bản chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Hoài N ly hôn chị Hoàng Thị C. Về án phí: Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Bị đơn chị Hoàng Thị C hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại thôn Phương Tân, xã Kim Liên, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
    2. Quá trình giải quyết vụ án, anh N không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị C ở nước ngoài. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu nhưng gia đình chị C đều trình bày không biết địa chỉ cụ thể của chị C ở Nhật Bản. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho bà Lê Thị L là mẹ đẻ của chị C để bà L thông tin lại cho chị C biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh N và chị C đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, anh N vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hoài N và chị Hoàng Thị C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 31/12/2019 nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn được khoảng 1 tuần, chị C đã đi du học tại Nhật Bản. Khoảng 01 năm đầu, anh N và chị C vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Đến năm 2021, sau khi chị C hoàn thành xong chương trình du học, anh N đã bảo chị C về Việt Nam để hai vợ chồng cùng làm ăn và chung sống với nhau nhưng chị C không đồng ý, từ đó anh N và chị C đã xảy ra mâu thuẫn và không còn liên lạc với nhau nữa. Nay anh N và chị C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh N xin ly hôn, chị C đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn của anh N và chị C đã trầm trọng, anh chị không còn quan tâm, yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho anh N được ly hôn chị C là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
    2. Về quan hệ con chung: Anh N và chị C không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Hoài N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Hoài N ly hôn chị Hoàng Thị C.
  2. Về án phí: Anh Nguyễn Hoài N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) anh N đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2022/0000822 ngày 19 tháng 6 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh N đã nộp đủ án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Hoài N vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Chị Hoàng Thị C vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Chất

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 257/2023/HNGĐ-ST ngày 19/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 257/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Hoài N xin ly hôn chị Hoàng Thị C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger