TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 257/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/9/2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê Bà Nguyễn Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Nguyễn Thị Việt Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXX-ST ngày 13/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn S, sinh ngày 25/10/1995 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện tại: 22 Upper S, #01-22 S.
Anh S ủy quyền cho bà Nguyễn Thu H, sinh năm 2000; Địa chỉ: tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai giao nhận tài liệu với Tòa án.
- Bị đơn: Chị Đặng Thị T, sinh ngày 06/12/1989 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Lê Văn S (Có xác nhận của Đ tại Singapore) trình bày:
Về hôn nhân: anh, chị T kết hôn vào ngày 12/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hòa thuận. Từ tháng 4/2021 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi với nhau do bất đồng quan điểm sống và tính cách khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước, anh, chị đã ly thân nhau từ đó đến nay. Đầu năm 2024 anh sang Singapore sinh sống và làm việc. Sau nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không có tiến triển. Đến nay tình cảm ngày càng cạn kiệt, không còn tình cảm với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc nên anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Đặng Thị T.
Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung là cháu Lê Bảo K, sinh ngày 04/5/2018, hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị T. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao cháu K cho chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Đặng Thị T là bị đơn đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng chị T không đến Tòa án làm việc cũng nhưng không cung cấp ý kiến đến Tòa án.
Tại biên bản làm việc ngày 02/8/2024 và 15/8/2024, bà Đào Thị M là mẹ chị Đặng Thị T cho biết.
Về hôn nhân của chị T, anh S bà cho biết: Anh, chị được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn anh, chị cùng chung sống cùng bà tại thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đâu anh, chị chung sống hòa thuận nhưng được khoảng 2-3 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Khoảng tháng 8/2018 anh S về quê tại Nghệ An sinh sống từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Đến nay bà thấy anh S, chị T không còn quan tâm, yêu thương nhau.
Chị T hiện đang sinh sống cùng bà, bà đã giao các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị T, chị T cho biết chị T đồng ý ly hôn với anh S, đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng do công việc bận, làm về muộn nên không bố trí thời gian đến Tòa án làm việc được. Chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: chị T, anh S có 01 con chung là cháu Lê Bảo K, sinh ngày 04/5/2018, hiện nay cháu K đang sinh sống cùng chị T và bà tại thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Lê Văn S vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Đặng Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Lê Văn S; Biên bản làm việc với bà M và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không chấp hành quy định của pháp luật. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn S; Xử:
Về hôn nhân: anh Lê Văn S được ly hôn chị Đặng Thị T.
Về con chung: Giao cháu Lê Bảo K cho chị Đặng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Do anh S, chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Lê Văn S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Anh S khởi kiện xin ly hôn chị T và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh S là nguyên đơn hiện đang lao động tại Singapore. Chị T là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về sự vắng mặt đương sự:
Đối với nguyên đơn: anh Lê Văn S có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh S.
Đối với bị đơn: Chị Đặng Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với chị T.
[4]. Về hôn nhân: Anh Lê Văn S và chị Đặng Thị T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 12/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, anh S xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Đặng Thị T.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh S, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T, anh S chung sống với nhau hòa thuận. Nhưng từ tháng 04/2021 anh, chị phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân nhau từ đó đến nay. Trong thời gian mâu thuẫn anh, chị nhiều lần nói chuyện để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được. Anh S xác định vợ chồng đã ly thân nhau thời gian dài không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn chị T. Chị T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không có ý kiến, không đến Tòa án làm việc và cũng không đến phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị T đã từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của mình trong vụ án. Ngoài ra, Tòa án cũng xác minh tình trạng hôn nhân của chị T, anh S thông qua gia đình thì được bà M là mẹ chị T cung cấp chị T, anh S có mâu thuẫn từ tháng 8/2018, hiện nay không còn liên lạc với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để xác định vợ chồng chị T, anh S đã có thời gian dài không quan tâm, liên lạc với nhau, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh S, xử cho anh S được ly hôn chị T là phù hợp tình trạng hôn nhân thực tế cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
[5]. Về con chung: Anh S và chị T có 01 con chung là cháu Lê Bảo K, sinh ngày 04/5/2018. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị T. Sau khi ly hôn anh S đề nghị giao con chung cho chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Xét yêu cầu giao con chung cho chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn của anh S, Hội đồng xét xử thấy: Anh S hiện đang lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cháu K từ khi sinh ra đến nay vẫn sinh sống cùng chị T và do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu phát triển ổn định cả về thể chất lẫn tinh thần. Cháu K trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử thấy việc giao cháu K cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn sẽ đảm bảo hơn anh S. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao cháu K cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn của anh S là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn anh Lê Văn S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Trường hợp anh Lê Văn S có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh S, chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản, công nợ: Do anh S, chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Anh Lê Văn S phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo:
Anh Lê Văn S vắng mặt tại phiên tòa và đang lao động tại nước ngoài thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định tại Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Đặng Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn S.
- Về hôn nhân: Anh Lê Văn S được ly hôn chị Đặng Thị T.
- Về con chung: Giao cháu Lê Bảo K, sinh ngày 04/5/2018 cho chị Đặng Thị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, anh Lê Văn S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Lê Văn S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001154 ngày 17/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Lê Văn S đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Anh Lê Văn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Chị Đặng Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 257/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 257/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh S, chị T ly hôn, tranh chấp nuôi con
