Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/6/2025

Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai

Bà Ngô Thị Yêm

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 20/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 154/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025, về việc xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nông Văn T – Sinh năm 1992; Nơi thường trú và nơi ở: Thôn P, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày: 07/10/2022. Vắng mặt – Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị V – Sinh năm 1990; Nơi thường trú và nơi ở: Thôn H, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày: 01/11/2021. Vắng mặt – Có đơn xin vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn T1 – Sinh năm 1985; Nơi thường trú và nơi ở: Thôn Y, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là anh Nông Văn T trình bày:

Khoảng đầu năm 2022, anh T có quen biết chị Vũ Thị V – Sinh năm 1990; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi ở: Thôn H, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Thời điểm này, anh T chỉ biết chị H sống một mình tại Thôn H, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Quá trình hai bên quen biết thì anh T và chị V có quan hệ tình cảm với nhau. Sau đó, anh T được biết chị V là người đã có chồng và do anh T đi công tác xa nên anh và chị V không còn gặp nhau nữa. Đến khoảng giữa năm 2024, anh T có tìm gặp chị V thì được biết chị V đã ly hôn chồng vào khoảng tháng 7/2023, đồng thời chị V có nói với anh về việc sau khi anh và chị V có quan hệ tình cảm nên chị V đã mang thai và sinh được 1 bé trai vào ngày 22/10/2022. Thời điểm sinh cháu bé thì chị V và anh T1 (là chồng chị V) chưa ly hôn. Sau này để tránh căng thẳng nên chị V không nói cho anh T1 về việc đã có con riêng. Vì vậy trong Quyết định ly hôn của Tòa án không ghi nhận về đứa con này. Chị V cũng chưa đi đăng ký khai sinh cho cháu bé. Hiện nay cháu bé được gọi tên là: Nông Nhật A.

Quá trình giải quyết vụ án, anh T đã có đơn đề nghị giám định ADN giữa anh và cháu Nông Nhật A. Kết quả giám định ngày 05/5/2025 của Công ty TNHH L thể hiện anh Nông Văn T và cháu Nông Nhật A có quan hệ cha – con. Anh T không có ý kiến gì với kết quả giám định này.

Nay để để thực hiện thủ tục khai sinh cho cháu T đúng quy định pháp luật, anh Nông văn T đề nghị Tòa án căn cứ theo kết quả giám định để xác định anh là bố đẻ của cháu Nông Nhật A.

Bị đơn là chị Vũ Thị V trình bày:

Chị và anh Bùi Văn T1 – Sinh năm 1985; Nơi thường trú và nơi ở: Thôn Y, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội trước đây là vợ chồng. Trong quá trình vợ chồng chung sống với nhau có phát sinh nhiều mâu thuẫn nên khoảng năm 2021 chị và anh T1 sống ly thân. Quá trình ly thân, đến năm 2022 chị V có quen biết với anh Nông Văn T và giữa hai người có quan hệ tình cảm với nhau. Do lúc đó chị V sống một mình nên anh T không biết chị đã có chồng. Tuy nhiên, sau khi biết được chị V có chồng thì anh T đã chuyển đi nơi khác làm việc và hai người không gặp nhau nữa. Sau khi anh T chuyển đi nơi khác làm việc thì chị V mới biết mình mang thai. Đến ngày 22/10/2022, chị V sinh ra một cháu trai tại Bệnh viện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Đến giữa năm 2023, chị V có làm đơn ly hôn anh T1 tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh. Quá trình Tòa án giải quyết ly hôn, để tránh vợ chồng căng thẳng thì chị V không kê khai về việc đã sinh một cháu trai vào ngày 22/10/2022 tại Bệnh viện Đ, tỉnh Thái Nguyên nên khi Tòa án giải quyết vụ án đã không ghi nhận cháu vào Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 311/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2023. Đến nay, chị V vẫn chưa thực hiện đăng ký khai sinh cho cháu. Chị đặt tên cho cháu là: Nông Nhật A. Đến khoảng cuối năm 2024, chị có gặp lại anh T và nói chuyện về việc chị và anh T có một con chung là cháu Nông Nhật A.

Để thực hiện được thủ tục đăng ký khai sinh theo đúng quy định pháp luật và ghi tên anh T trên giấy khai sinh của cháu Nhật A, nay anh T khởi kiện chị V yêu cầu xác định cháu Nông Nhật A là con đẻ của anh T chị đồng ý, chị xác định cháu Nông Nhật A là con chung giữa chị và anh T.

Tòa án đã tiến hành giám định ADN giữa anh T và cháu Nhật A theo yêu cầu giám định của anh T. Kết quả giám định ngày 05/5/2025 của Công ty TNHH L thể hiện anh Nông Văn T và cháu Nông Nhật A có quan hệ cha – con. Chị V không có ý kiến gì với kết quả giám định này

Chị V đề nghị Tòa án căn cứ kết quả giám định ADN để xác định anh Nông Văn T và bố đẻ của cháu Nông Nhật A từ đó làm cơ sở để thực hiện đăng ký khai sinh cho cháu Nông Nhật A.

Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng để yêu cầu anh Bùi Văn T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án cung cấp ý kiến và có mặt tại Tòa án để làm việc nhưng anh T1 không cung cấp ý kiến, không có mặt tham gia các buổi làm việc và xét xử vụ án. Vì vậy, Tòa án căn cứ trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; Tòa án đã xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; Tòa án đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Phiên tòa diễn ra công khai, dân chủ, đề cập đến mọi vấn đề phải giải quyết trong vụ án.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.

Về nội dung: Đề nghị Toà án tuyên :

  • + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xác định cháu Nông Nhật A là con đẻ của anh Nông Văn T.
  • + Về án phí: Vụ án áp dụng án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nông Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu xác định cha cho con, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Vũ Thị V có Hộ khẩu thường trú và sinh sống tại tại địa bàn huyện Đ, như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Đông Anh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử và tranh tụng tại phiên toà: Ngày 26/5/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và anh Bùi Văn T1 vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa xét xử vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, dành quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Căn cứ lời khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Trong thời kỳ hôn nhân với anh Bùi Văn T1, chị Vũ Thị V đã có tình cảm với anh Nông Văn T và có thai. Ngày 22/10/2022, chị Vũ Thị V sinh 01 cháu trai tại Bệnh viện Đ, tỉnh Thái Nguyên với tên dự kiến là: Nông Nhật A.

Ngày 11/7/2023, chị Vũ Thị V và anh Bùi Văn T1 thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 311/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Quá trình giải quyết chị V và anh T1 không trình bày về việc chị V sinh được 01 cháu trai ngày 22/10/2022 nên trong Quyết định chỉ ghi nhận chị V và anh T1 có 02 con chung là Bùi Anh T2, sinh ngày 25/9/2010 và Bùi Bảo K, sinh ngày 24/9/2013.

Theo kết quả phân tích ADN ngày 05/5/2025 của Công ty TNHH L kết luận: “người có mẫu ADN ký hiệu Nông Văn T và người có mẫu ADN ký hiệu Nông Nhật A cùng quan hệ huyết thống Cha-Con"

Căn cứ Điều 89, Điều 90 và Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của anh Nông Văn T về việc đề nghị Tòa án xác định anh T là cha đẻ của cháu Nông Nhật A.

[3] Về án phí, quyền kháng cáo: Anh Nông Văn T được miễn án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 89, Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 227, Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xác định cha cho con của anh Nông Văn T.
  • Xác định anh Nông Văn T – Sinh năm 1992; Nơi thường trú và nơi ở: Thôn P, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 07/10/2022, là cha đẻ của cháu Nông Nhật A – Sinh ngày 22/10/2022 (Theo Giấy chứng sinh số: 39, quyển số: 03 ngày 22/10/2022 của Bệnh viện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Kết quả phân tích ADN ngày 05/5/2025 của Công ty TNHH L)
  • Anh Nông Văn T và chị Vũ Thị V có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thức hiện việc đăng ký các giấy tờ có liên quan đến nhân thân đối với cháu Nông Nhật A theo quy định pháp luật.
  • - Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nông Nhật A được miễn án phí nên được trả lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án ký hiệu : BLTU/23, số : 0072073 ngày 10/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
  • Án xử công khai sơ thẩm, anh Nông Văn T, chị Vũ Thị V và anh Bùi Văn T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THA huyện Đông Anh;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 257/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 257/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xác định cha cho con của anh Nông Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger