TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 257/2025/DS-PT Ngày: 26/3/2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Quy.
Các Thẩm phán:
1/ Bà Phạm Thị Thảo.
2/ Bà Lê Thị Anh Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Thảo Linh – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2025/DSPT ngày 17 tháng 02 năm 2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 2164/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 3135/2025/QĐPT ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Xuân L, sinh năm 1969 (Có mặt)
Địa chỉ: 4 H, Phường A (Phường A cũ), quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 (Có mặt)
Địa chỉ: 7 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền chứng nhận số 003515 ngày 27/6/2024 tại Văn phòng C3).
- Bị đơn: Công ty TNHH R
Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà A, A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
Ông Đặng Văn P, sinh năm 1992 (Có mặt)
Địa chỉ: 9 Hồ V, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 0106/2023/GUQ-RI lập ngày 19/6/2023).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lê Thị Mỹ Đ – Công ty L2 – Đoàn luật sư Thành phố H.
Địa chỉ: 4 N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: 4 đường H, Phường A (Phường A cũ), quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bị đơn - Công ty TNHH R.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện ngày 30/3/2023; Đơn thay đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 27/7/2023 và ngày 29/5/2024; Đơn rút yêu cầu khởi kiện bổ sung ngày 29/5/2024 và tại phiên toà, bà Trần Thị Xuân L là nguyên đơn và ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Ngày 08/12/2019, nguyên đơn ký Hợp đồng kỳ nghỉ gia đình số RI-1086-8474 kèm Phụ lục A & B và Phụ lục hợp đồng cùng đề ngày 08/12/2019 để mua của bị đơn gói dịch vụ quyền lưu trú và sử dụng loại căn hộ nghỉ dưỡng mỗi năm trong nước hoặc nước ngoài, loại căn hộ hạng B có 02 (hai) phòng ngủ được lưu trú tối đa 06 (sáu) người, hạng thẻ Ultra S trong thời hạn 20 năm kể từ ngày ký hợp đồng với giá trị là 256.987.108 đồng, phí duy trì (phí thường niên) là 6.500.000 đồng/năm (phí nghỉ dưỡng, phí duy trì chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, các khoản thuế, phí, lệ phí trong quá trình thực hiện hợp đồng). Nguyên đơn đã thanh toán toàn bộ giá trị hợp đồng trong hai đợt vào ngày 08/12/2019 và ngày 12/12/2019.
Ngoài ra, tại bản Thỏa thuận đặt chỗ ngày 08/12/2019, bị đơn còn đồng ý mua lại gói nghỉ dưỡng mà nguyên đơn đã ký hợp đồng với Công ty R1 với giá 99.444.480 đồng (tương đương 80% giá trị gói nghỉ dưỡng).
Trong thời gian thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã sử dụng dịch vụ 03 lần (gồm 02 lần sử dụng quyền nghỉ dưỡng và 01 lần sử dụng quà tặng chuyến đi miễn phí), cụ thể:
- V1 (S, Mỹ) thời gian từ ngày 03/01 đến ngày 05/01/2020: sử dụng cho 04 người lớn;
- Mường Thanh (P) từ ngày 22/6 đến ngày 26/6/2020: sử dụng cho 02 người lớn;
- Melica Resort (P) từ ngày 20/5/2022 đến ngày 23/5/2022: sử dụng cho 04 người lớn (chuyến đi quà tặng tiêu chuẩn trong nước).
Tuy nhiên, trên thực tế bị đơn cung cấp dịch vụ nghỉ dưỡng không giống như đã tư vấn, cam kết ghi trong hợp đồng, làm cho nguyên đơn không được sử dụng quyền lợi nghỉ dưỡng của mình, cụ thể:
Ngày 14/9/2022, nguyên đơn gửi email cho bị đơn đặt phòng nghỉ dưỡng ở Singapore cho 04 người từ ngày 29/9/2022 đến ngày 02/10/2022. Bị đơn phản hồi lại bằng email rằng nguyên đơn chỉ được đi vào tháng 11 và mức phí trao đổi của các khách sạn bị đơn gợi ý từ 350$ đến 450$ (đô la Mỹ) mà không phải là mức phí trao đổi tối đa 250$ (đô la Mỹ) như khi tư vấn bán hàng và cam kết tại mục 3.5 Điều 3 Phụ lục B của Phụ lục hợp đồng. Khi nguyên đơn dẫn chứng điều khoản phí trao đổi quy định tại phụ lục hợp đồng thì bị đơn trả lời sẽ chuyển khách sạn giá rẻ hơn nhưng phải dời chuyến đi sang tháng 11/2022. Trong khi đó, nguyên đơn vẫn tự đặt được khách sạn lưu trú cho chuyến đi Singapore như dự kiến;
Tại Thỏa thuận đặt chỗ ngày 08/12/2019 có ghi “Tặng 03 chuyến du lịch C1 Âu 7 ngày 6 đêm, trong nước 02 chuyến mỗi chuyến 4 ngày 3 đêm”. Ban đầu bị đơn tư vấn và cam kết các chuyến tặng không có thời hạn, nhưng trong email phản hồi của bị đơn vào ngày 19/8/2022 lại ghi chương trình tặng chuyến C 7 ngày 6 đêm đã kết thúc nên nguyên đơn không thể sử dụng. Cũng như về 02 chuyến tặng 4 ngày 3 đêm trong nước thì ghi “được tặng 02 chuyến 4 ngày 3 đêm trên hệ thống quà tặng tại Việt Nam hoặc có thể cộng gộp sử dụng 01 chuyến tặng 4 ngày 3 đêm dành cho 02 phòng ngủ”. Những câu trả lời của bị đơn hoàn toàn khác với những gì mà bị đơn đã tư vấn, cam kết và ghi vào Thỏa thuận đặt chỗ với nguyên đơn.
Ngoài ra, bị đơn còn có nhiều sai phạm khác như: ăn sáng, đưa đón sân bay... mà nguyên đơn đã khiếu nại liệt kê tại bản khai giải trình về sai phạm giữa tư vấn, cam kết, hợp đồng, phụ lục hợp đồng với thực tế dịch vụ cung cấp của bị đơn kèm các email trao đổi đã cung cấp cho Tòa án. Nguyên đơn nhiều lần khiếu nại về những vi phạm cam kết này nhưng Phòng Pháp chế của bị đơn, kể cả trao đổi với giám đốc kinh doanh nhưng đều giải quyết không thỏa đáng. Nhân viên phòng pháp chế của bị đơn có buổi làm việc để giải quyết khiếu nại theo Biên bản làm việc ngày 14/9/2022 và tiếp nhận thông tin, hẹn sẽ trình lãnh đạo và phản hồi trong vòng chậm nhất là 10 ngày, đồng thời nhận bản chính quyền lợi của VIP và super VIP để về đóng dấu công ty cho đúng giá trị pháp lý rồi sẽ gửi lại cho nguyên đơn cùng với phản hồi khiếu nại. Nhưng từ tháng 9/2022 cho đến nay, bị đơn không trả lời và cũng không gửi lại bản chính quyền lợi của VIP và super VIP mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ. Vì lo sợ bị đơn tước mất quyền lợi của mình trong hợp đồng 20 năm nên nguyên đơn phải đóng hai lần phí thường niên tổng cộng là 13.000.000 đồng (ngày 02/11/2020 đóng 5.000.000 đồng và ngày 06/5/2022 đóng 8.000.000 đồng) cho dù nguyên đơn không được sử dụng quyền lợi nghỉ dưỡng.
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 30/3/2023, Đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung ngày 27/7/2023 và ngày 29/5/2024, nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu như sau:
- Hủy hợp đồng kỳ nghỉ gia đình số RI - 1086 - 8474 ngày 08/12/2019 ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn;
- Yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nguyên đơn đã thanh toán của hợp đồng kỳ nghỉ là 256.987.108 đồng;
- Yêu cầu bị đơn trả lại số tiền 99.444.480 đồng của gói nghỉ dưỡng của Resorts V mà bị đơn đã mua lại của nguyên đơn;
- Yêu cầu bị đơn trả lại số tiền phí thường niên 13.000.000 đồng.
Nguyên đơn đồng ý thanh toán chi phí của 03 chuyến đi đã thực hiện và đề nghị trừ vào giá trị hợp đồng mà nguyên đơn đã thanh toán cho bị đơn. Do bị đơn không cho biết chi phí cụ thể nên nguyên đơn đã truy cập vào hệ thống booking.com thời điểm tháng 6/2024 để booking phòng của 03 khách sạn và ước tính giá đặt phòng thời điểm sử dụng dịch vụ của bị đơn, trong đó: khách sạn V2, Mỹ sau khi dịch C2 đã ngưng hoạt động và đã bán vào năm 2023 cho chủ mới là The Barnes San F, Tapestry Collection by H2 giá khoảng 10.846.087 đồng; chuyến M khoảng 4.737.600 đồng; chuyến M1 khoảng 3.567.801 đồng, tổng số tiền ước tính là 19.151.488 đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ ý kiến rút phần yêu cầu khởi kiện 3 và 4 về yêu cầu bị đơn trả lại số tiền 99.444.480 đồng của gói nghỉ dưỡng Resorts Vacation như tại đơn rút yêu cầu khởi kiện ngày 29/5/2024 và số tiền 13.000.000 đồng phí duy trì (phí thường niên). Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện 1 và 2, cụ thể là yêu cầu Hủy hợp đồng kỳ nghỉ gia đình số RI - 1086 - 8474 và các phụ lục hợp đồng ngày 08/12/2019; yêu cầu bị đơn phải trả giá trị hợp đồng còn lại sau khi trừ chi phí ba chuyến đi đã thực hiện là: 256.987.108 đồng - 19.151.488 đồng = 237.835.620 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
- Bị đơn là Công ty TNHH R2, có ông Đặng Văn P đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì những lý do như sau:
Thứ nhất, Hợp đồng Kỳ nghỉ gia đình số RI-1806-8474 và các Phụ lục hợp đồng được ký giữa hai bên ngày 08/12/2019 là hoàn toàn tự nguyện, thiện chí và đồng ý của các bên theo quy định tại các Điều 116, 117, 118, 119, 513, 514 của Bộ luật dân sự 2015. Do đó, Hợp đồng này có hiệu lực và bị đơn kinh doanh hoàn toàn hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, Bị đơn luôn thực hiện đúng các quy định của hợp đồng, không vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, thỏa thuận đặt mua mà hai bên đã ký kết. Quá trình bị đơn phục vụ nguyên đơn sử dụng dịch vụ quyền nghỉ dưỡng và sau khi thực hiện chuyến nghỉ dưỡng nguyên đơn đều rất hài lòng về dịch vụ mà phía bị đơn cung cấp, cụ thể lịch sử thực hiện quyền nghỉ dưỡng của nguyên đơn như sau:
Ngày 03/01/2020, bị đơn đã đặt thành công phòng nghỉ dưỡng theo yêu cầu của nguyên đơn tại V3, Mỹ: Ngày thực hiện chuyến nghỉ dưỡng từ ngày 03/01/2020 đến ngày 05/01/2020, Địa điểm nghỉ dưỡng: V3, Mỹ tại địa chỉ số B P, St. S, CA 94102, United States. Số người nghỉ dưỡng: 04 người lớn và 2 trẻ em (01 bé 4 tuổi và 01 bé 5 tuổi), Hạng phòng: 02 D;
Ngày 22/6/2020, bị đơn kiểm tra thông tin và đã đặt thành công chuyến nghỉ dưỡng ngay sau khi tiếp nhận yêu cầu của nguyên đơn tại M, P: Ngày thực hiện chuyến nghỉ dưỡng từ ngày 22/6/2020 đến ngày 26/6/2020; Địa điểm nghỉ dưỡng: Lô CH1, Khu P, ấp Đ, xã D, P, Kiên Giang, Việt Nam; Số người nghỉ dưỡng: 04 người lớn. Hạng phòng: 02 D.
Ngày 10/12/2020, bị đơn có tiếp nhận yêu cầu đặt đi nghỉ dưỡng của nguyên đơn tại H, Quảng Ninh, Việt Nam. Ngoài ra, nguyên đơn có nhờ đặt ngoài thêm 01 phòng nghỉ dưỡng (do gói Hợp đồng chỉ có 02 phòng ngủ). Ngay sau đó, bị đơn đã tiến hành kiểm tra tại khu vực nguyên đơn yêu cầu và gửi danh sách khách sạn/resort tại khu vực H, Quảng Ninh, Việt Nam cho nguyên đơn. Tuy nhiên, nguyên đơn đã không lựa chọn được khách sạn/resorts theo gợi ý của bị đơn. Bị đơn còn liên hệ, gọi điện tới nguyên đơn để gợi ý thêm một số khách sạn/resorts khác giúp nguyên đơn có nhiều lựa chọn tham khảo, nhưng nguyên đơn từ chối.
Ngày 20/5/2022, bị đơn đặt thành công phòng nghỉ dưỡng theo yêu cầu của nguyên đơn tại M, P: Ngày thực hiện chuyến nghỉ dưỡng từ ngày 20/5/2022 đến ngày 23/5/2022; Địa điểm nghỉ dưỡng: C, P, Kiên Giang, Việt Nam; Số người nghỉ dưỡng: 4 người lớn; Hạng phòng: 02 D.
Hợp đồng kỳ nghỉ có thời hạn trong vòng 20 năm với giá trị không thay đổi. Có nghĩa hợp đồng này được hai bên ký kết thực hiện trọn gói trong vòng 20 năm từ ngày 08/12/2019 đến ngày 08/12/2039 với giá trị hợp đồng là 256.987.108 đồng, không phụ thuộc vào giá cả thị trường ngày càng tăng. Do đó, bị đơn không thể xác định chi phí thực hiện quyền nghỉ dưỡng và cung cấp giá trị của các chuyến nghỉ dưỡng mà nguyên đơn đã sử dụng và việc làm rõ giá trị nghỉ dưỡng là không phù hợp với nội dung của hợp đồng mà các bên đã ký kết. Do đó, nguyên đơn yêu cầu hủy Hợp đồng kỳ nghỉ gia đình số RI-1806-8474 ngày 08/12/2019 và yêu cầu bị đơn trả lại giá trị hợp đồng đã thanh toán là không có cơ sở.
Thứ ba, đối với yêu cầu hoàn trả Phí thường niên (Phí duy trì): Căn cứ theo khoản 4.3 Điều 4 Hợp đồng kỳ nghỉ quy định “Ngoài khoản thanh toán kể trên. Khách Nghỉ D phải thanh toán cho Công ty hoặc Công ty quản lý một khoản Phí Duy Trì hằng năm (“Phí Thường Niên”). Căn cứ Điều 2 Phụ lục B của Hợp đồng có quy định tại khoản 2.1 “Điều kiện để thực hiện Quyền Nghỉ Dưỡng: Trong mỗi năm, K nghỉ dưỡng có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty khoản Phí duy trì trước ngày cuối cùng của năm trước đó, áp dụng ngay từ năm đầu sau khi hợp đồng chính thức có hiệu lực”; khoản 2.2 “Phí duy trì được quy định theo Căn hộ nghỉ dưỡng. Đối với L1 Căn hộ B mức Phí duy trì trên 01 năm là 6.500.000 đồng”; khoản 2.3 “Để tránh hiểu lầm. Phí duy trì phải được thanh toán cho dù Khách nghỉ dưỡng không sử dụng Quyền nghỉ dưỡng trong bất kỳ năm cụ thể nào”; khoản 2.6 “Việc thanh toán Phí duy trì hàng năm vào các ngày đến hạn là điều kiện cơ bản của hợp đồng chính và là một điều kiện tiên quyết để Khách nghỉ dưỡng có quyền thực hiện Quyền nghỉ dưỡng như quy định. Việc Khách nghỉ dưỡng không thanh toán Phí duy trì trong ba (03) năm liên tục hoặc cộng dồn trong suốt thời gian thực hiện Quyền nghỉ dưỡng được coi là vi phạm cơ bản của Hợp đồng. Công ty có quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng và từ chối cho K nghỉ dưỡng hưởng Quyền nghỉ dưỡng. Trong trường hợp này, Khách nghỉ dưỡng không được quyền khiếu nại hoặc khiếu kiện liên quan đên việc không sử dụng Quyền nghỉ dưỡng của mình”. Theo đó, việc thanh toán phí thường niên (phí duy trì) là nghĩa vụ của khách hàng, là điều kiện cơ bản của hợp đồng và là một điều kiện tiên quyết để khách nghỉ dưỡng có quyền thực hiện quyền nghỉ dưỡng như quy định. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu hoàn lại khoản tiền phí thường niên (phí duy trì) là không có sơ sở.
Đối với ý kiến của nguyên đơn về việc bị đơn không đặt phòng chuyến đi Singapore là không đúng. Vì sau khi tiếp nhận thông tin yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn đã nhanh chóng kiểm tra tình trạng phòng trống tại Singapore cho 04 người vào thời gian từ ngày 29/9/2022 đến ngày 02/10/2022 nhưng thời điểm này hệ thống tại Singapore không còn cấp quyền liên kết nên bị đơn đề xuất nguyên đơn tham khảo dời chuyến đi đến tháng 11/2022, chứ bị đơn không yêu cầu nguyên đơn dời chuyến. Đối với các chuyến C 7 ngày 6 đêm là quà tặng chỉ có thời hạn trong 01 năm, sau đó do dịch bệnh xảy ra nên bị đơn đã đồng ý bảo lưu quyền nghỉ dưỡng cho nguyên đơn. Bị đơn đã tích cực liên hệ trao đổi để giải quyết những vấn đề mà nguyên đơn khiếu nại và gần như đã thống nhất hết, chỉ còn lại một vấn đề nhỏ hai bên chưa thống nhất nên chưa ký lại bản thỏa thuận.
- Ông Nguyễn Chí C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 03/7/2024. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C có ủy quyền cho bà Đinh Thị H1, bà Nguyễn Thị Ngọc T đại diện đã có ý kiến tại các bản khai thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Xuân L (là vợ của ông C).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 2164/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Hủy hợp đồng kỳ nghỉ gia đình số RI-1086-8474 và các phụ lục hợp đồng ký kết ngày 08/12/2019 giữa bà Trần Thị Xuân L và Công ty TNHH R2.
Buộc Công ty TNHH R2 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Trần Thị Xuân L số tiền 237.835.620 đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu, tám trăm ba mươi lăm nghìn, sáu trăm hai mươi đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà Trần Thị Xuân L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu Công ty TNHH R2 chậm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nói trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Xuân L về yêu cầu Công ty TNHH R2 trả số tiền 99.444.480 đồng của gói nghỉ dưỡng Resorts V và số tiền 13.000.000 đồng phí duy trì (phí thường niên).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật quy định.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, bị đơn – Công ty TNHH R kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số: 2164/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn, luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 23/9/2024 bị đơn có đơn kháng cáo, căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đơn kháng cáo của đương sự còn trong thời hạn kháng cáo đúng quy định nên được chấp nhận xem xét.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng kỳ nghỉ gia đình số RI-1086-8474 ngày 08/12/2019 kèm Phụ lục A & B và Phụ lục hợp đồng cùng đề ngày 08/12/2019, Hợp đồng và phụ lục của hợp đồng được hai bên ký kết là tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng, phụ lục hợp đồng phù hợp quy định tại các Điều 116, 117, 118, 119, 398, 403, 513 và 514 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia ký kết hợp đồng. Theo hợp đồng bị đơn là bên cung cấp dịch vụ cung cấp cho nguyên đơn là người sử dụng dịch vụ được cấp quyền nghỉ dưỡng và đặt chỗ mỗi năm, loại căn hộ hạng B - Ultra S với 02 (hai) phòng ngủ được lưu trú tối đa 06 (sáu) người, thời hạn hợp đồng 20 năm kể từ ngày 08/12/2019 đến ngày 08/12/2039 với giá trị phí nghỉ dưỡng (tiền đặt chỗ) không thay đổi là 256.987.108 đồng. Người sử dụng dịch vụ phải trả phí duy trì (phí thường niên) là 6.500.000 đồng/năm (Phí nghỉ dưỡng, phí duy trì chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, các khoản thuế, phí, lệ phí trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng). Ngoài ra, người sử dụng dịch vụ còn có cơ hội thực hiện quyền trao đổi thông qua các công ty T1 (“Mạng lưới trao đổi”) và có nghĩa vụ thanh toán mức phí trao đổi trên một lần nghỉ dưỡng do các công ty trao đổi quyết định.
Nhận thấy, bị đơn xác nhận nguyên đơn đã thanh toán toàn bộ giá trị hợp đồng vào ngày 08/12/2019 và ngày 12/12/2019 với tổng số tiền 256.987.108 đồng, thanh toán phí duy trì vào ngày 02/11/2020 và ngày 06/5/2022 với tổng số tiền là 13.000.000 đồng. Nguyên đơn đã sử dụng dịch vụ 03 lần, trong đó 02 lần sử dụng quyền nghỉ dưỡng, đặt chỗ tại: Villa F (S, Mỹ) thời gian từ ngày 03/01/2020 đến ngày 05/01/2020 cho 04 người lớn; Mường Thanh (P) từ ngày 22/6/2020 đến ngày 26/6/2020 sử dụng cho 02 người lớn; và 01 lần sử dụng chuyến đi quà tặng theo tiêu chuẩn trong nước tại M (P) từ ngày 20/5/2022 đến ngày 23/5/2022 cho 04 người lớn.
Xét ý kiến của nguyên đơn cho rằng, mặc dù nguyên đơn đã thực hiện ba chuyến nghỉ dưỡng nhưng trên thực tế bị đơn cung cấp dịch vụ nghỉ dưỡng không giống như bị đơn đã tư vấn ban đầu, cam kết, thỏa thuận hợp đồng. Nguyên đơn nhiều lần khiếu nại nhưng không được bị đơn giải quyết thỏa đáng về thời gian đặt chỗ, phí chuyển đổi khi nguyên đơn đặt chuyến đi Singapore từ ngày 29/9/2022 đến ngày 02/10/2022; về chuyến đi quà tặng 03 chuyến du lịch C Âu 7 ngày 6 đêm, trong nước 02 chuyến mỗi chuyến 4 ngày 3 đêm... được đại diện của bị đơn thừa nhận. Bị đơn cho rằng, việc đặt chuyến nghỉ dưỡng ở Singapore từ ngày 29/9/2022 đến ngày 02/10/2022 của nguyên đơn không thành công là do thời điểm đặt chỗ thì trên hệ thống các công ty tại Singapore không còn cấp quyền liên kết với bị đơn, bị đơn đã giới thiệu 03 khách sạn khác với mức phí trao đổi do họ quyết định từ 350 đến 450 đô la Mỹ và đề xuất nguyên đơn tham khảo dời chuyến đi qua tháng 11/2022 để nguyên đơn lựa chọn nhưng nguyên đơn không chọn, chứ không phải bị đơn không cấp quyền nghỉ dưỡng theo yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, xét email phản hồi ngày 20/9/2022 của bị đơn thể hiện nội dung: “Sau khi tiếp nhận thông tin yêu cầu chuyến nghỉ dưỡng từ Quý Khách hàng, R3 đã nhanh chóng tiến hành kiểm tra tình trạng phòng trống tại Singapore vào thời gian 29/09 - 02/10/2022. Tuy nhiên, vào giai đoạn Quý khách hàng yêu cầu, tất cả các địa điểm tại Singapore đều không còn phòng trống trên hệ thống Trao đổi. Đối với giai đoạn cuối năm, S là địa điểm nghỉ dưỡng phổ biến có lượng khách du lịch đến tham quan và tham dự Lễ hội rất nhiều. Do đó, Quý khách hàng có thể tham khảo thời gian đặt Chuyến nghỉ dưỡng từ tháng 11/2022 và phản hồi sớm về RI VN để được hỗ trợ tốt nhất”, thì bị đơn nêu lý do các địa điểm tại Singapore đều không còn phòng trống trên hệ thống trao đổi chứ không phải do các công ty tại Singapore không còn cấp quyền liên kết như trình bày của vị đại diện bị đơn. Hơn nữa, xét khi bị đơn đưa ra các lý do như công ty không còn cấp quyền liên kết, hoặc các địa điểm không còn phòng trống và đề xuất bị đơn dời chuyến đi vào thời điểm khác nhưng lại không kèm theo thông tin phản hồi từ các công ty trong hệ thống liên kết, trao đổi mà bị đơn đã liên hệ để cho nguyên đơn rõ; cũng như không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để chứng minh những lý do này không phải là lỗi chủ quan của bị đơn. Việc bị đơn cho rằng không có khách sạn nào còn phòng trống trong thời điểm nguyên đơn đặt chỗ là điều bị đơn không tiên liệu được và đề xuất nguyên đơn dời chuyến đi vào thời điểm khác không thể là quyền của công ty, và trái với thỏa thuận tại điểm (d) mục 1.6 Phụ lục B về nội dung quyền nghỉ dưỡng quy định: “Trong trường hợp Công ty hoặc Công ty quản lý không thể thu xếp được căn hộ nghỉ dưỡng như đã đặt chỗ, Công ty có toàn quyền thu xếp một căn hộ khách sạn/biệt thự/bungalow khác với tiêu chuẩn bằng hoặc cao hơn ở trong hoặc ngoài phạm vi khu nghỉ dưỡng”; hoặc việc bị đơn giới thiệu cho nguyên đơn một số khách sạn khác có mức phí trao đổi cao hơn cũng không phù hợp với thỏa thuận tại mục 3.5 Điều 3 Phụ lục B và mục 1 Phụ lục hợp đồng “...hệ thống trao đổi với phí trao đổi không quá 250$ cho lần trao đổi”. Trong trường hợp này, nguyên đơn từ chối đề xuất của bị đơn là quyền của họ, nguyên đơn hoàn toàn không có lỗi và dẫn đến việc nguyên đơn khiếu nại thì đây là lỗi vi phạm hợp đồng của bị đơn.
Đồng thời, bị đơn cũng thừa nhận tại Thỏa thuận đặt chỗ ngày 08/12/2019 có ghi “Tặng 03 chuyến du lịch C1 Âu 7 ngày 6 đêm, trong nước 02 chuyến mỗi chuyến 4 ngày 3 đêm” nhưng không ghi rõ thời hạn sử dụng chuyến quà tặng, trong khi thực tế quà tặng “03 chuyến du lịch C1 Âu 7 ngày 6 đêm” chỉ có thời hạn trong 01 năm. Xét, khi tư vấn bán dịch vụ bị đơn đã không giải thích rõ ràng những nội dung tư vấn về thời hạn và điều kiện sử dụng dịch vụ quà tặng làm cho nguyên đơn hiểu lầm và không sử dụng được quyền nghỉ dưỡng của mình, dẫn đến việc nguyên đơn khiếu nại là lỗi của bị đơn làm cho cam kết thỏa thuận của hợp đồng không thể thực hiện được.
Xét ý kiến của bị đơn cho rằng: Hợp đồng kỳ nghỉ có thời hạn trong vòng 20 năm với giá trị không thay đổi, do đó bị đơn không thể xác định chi phí của từng chuyến nghỉ dưỡng mà nguyên đơn đã sử dụng, và trong mọi trường hợp bị đơn sẽ không có nghĩa vụ hoàn trả cho khách nghỉ dưỡng một phần hoặc toàn bộ phí nghỉ dưỡng đã thanh toán theo quy định tại điểm 9.3 Điều 9 của Hợp đồng là không có cơ sở xem xét. Bởi lẽ, hợp đồng kỳ nghỉ là hợp đồng mẫu do bị đơn soạn sẵn, có điều khoản quy định: “... trong mọi trường hợp, Công ty sẽ không có nghĩa vụ hoàn trả cho Khách Nghỉ Dưỡng một phần hoặc toàn bộ Phí nghỉ dưỡng mà Khách N đã thanh toán cho Công ty...” được xem là không có hiệu lực theo quy định tại khoản 3 Điều 405 của Bộ luật Dân sự năm 2015 “Trường hợp hợp đồng mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực”, và theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 16 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng “Điều khoản của hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, điều kiện giao dịch chung không có hiệu lực trong trường hợp loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đối với người tiêu dùng theo quy định của pháp luật”. Đồng thời thoả thuận tại điểm 9.3 Điều 9 của Hợp đồng nêu trên cũng trái với quy định của pháp luật về hậu quả của việc huỷ bỏ hợp đồng là “các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, sau khi trừ đi chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng” theo Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bị đơn cho rằng mức phí nghĩ dưỡng đối với 03 chuyến đi nghỉ đưỡng mà nguyên đơn đã sử dụng dịch vụ do bị đơn cung cấp cao hơn chi phí nguyên đơn đưa ra nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ cho yêu cầu của mình, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn trả số tiền 99.444.480 đồng của gói nghỉ dưỡng Resorts Vacation và 13.000.000 đồng phí duy trì (phí thường niên). Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của nguyên đơn đối với bị đơn theo khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3]. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn - Công ty TNHH R2 phải chịu theo quy định.
Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty TNHH R2 phải chịu 300.000 đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH R2.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 2164/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Hủy hợp đồng kỳ nghỉ gia đình số RI-1086-8474 và các phụ lục hợp đồng ký kết ngày 08/12/2019 giữa bà Trần Thị Xuân L và Công ty TNHH R2.
Buộc Công ty TNHH R2 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Trần Thị Xuân L số tiền 237.835.620 đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu, tám trăm ba mươi lăm nghìn, sáu trăm hai mươi đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà Trần Thị Xuân L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu Công ty TNHH R2 chậm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nói trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Xuân L về yêu cầu Công ty TNHH R2 trả số tiền 99.444.480 đồng của gói nghỉ dưỡng Resorts V và số tiền 13.000.000 đồng phí duy trì (phí thường niên).
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH R2 phải chịu án phí số tiền là 11.891.781 đồng (Mười một triệu, tám trăm chín mươi mốt nghìn, bảy trăm tám mươi mốt đồng).
Hoàn trả cho bà Trần Thị Xuân L số tiền tạm ứng án phí đã nộp: số tiền 6.424.678 đồng (Sáu triệu, bốn trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm bảy mươi tám đồng) theo Biên lai thu số AA/2023/0043550 ngày 19/5/2023; số tiền 2.486.112 đồng (Hai triệu, bốn trăm tám mươi sáu nghìn, một trăm mười hai đồng) theo Biên lai thu số AA/2023/0043888 ngày 01/8/2023; và số tiền 325.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0038687 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty TNHH R2 phải chịu 300.000 đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006354 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH R2 phải chịu án phí số tiền là 11.891.781 đồng (Mười một triệu, tám trăm chín mươi mốt nghìn, bảy trăm tám mươi mốt đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Quy |
Bản án số 257/2025/DS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 257/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
