Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 257/2024/DS-PT

Ngày: 07 tháng 11 năm 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử Phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Hải, bà Phan Thị Minh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Trần Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 246/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2024/DS-ST ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang bị kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2024/QĐXX-ST ngày 03 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 298/2024/QĐ-PT ngày 23/10/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị P, sinh năm: 1979; địa chỉ: Số B, tổ A, khóm T, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền hợp pháp cho nguyên đơn bà P là ông Thái Văn C, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, theo hợp đồng uỷ quyền ngày 29/02/2024 (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1970; cư trú tại địa chỉ: Tổ E, khóm T, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

- Ông Trịnh Cốc H, sinh năm 1967 (chồng bà G) không có yêu cầu độc lập trong vụ án, cư trú tại địa chỉ: Tổ E, khóm T, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

- Anh Trịnh Đình Vũ Q, sinh năm 1993 (con bà G) không có yêu cầu độc lập trong vụ án, cư trú tại địa chỉ: Tổ G, khóm T, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt không lý do.

Người kháng cáo: Ngày 01/08/2024 bà Nguyễn Thị G kháng cáo xin giảm ½ số tiền bà ký nhận nợ đối với bà P, ngoài ra không yêu cầu gì khác, những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phạm Thị P trình bày và yêu cầu:

Ngày 11/7/2023 AL bà G trực tiếp đến nhà bà P để vay số tiền 200.000.000đ, mục đích vay là để giải quyết việc gia đình, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng, thời hạn vay 30 ngày sẽ thanh toán hết vốn và lãi cho bà, sau khi nhận tiền bà G ký giấy biên nhận nợ thể hiện nội dung ngày 11/7/2023 AL đã nhận tiền 200.000.000đ của bà P, khi vay bà G thế chấp cho bà P 01 giấy CNQSDĐ đất số CS06011, tờ bản đồ số 36, thửa số 335, diện tích 1378m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 17/4/2023 cho Trịnh Đình Vũ Q (con trai của bà G) đứng tên QSD đất.

Trong thời hạn thỏa thuận vay tiền bà G không trả vốn, lãi tính đến ngày 11/01/2024 AL thì ngưng đóng lãi, bà G tìm cách né tránh, bà P khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị G, ông Trịnh Cốc H và anh Trịnh Đình Vũ Q liên đới nghĩa vụ trả cho bà số tiền vốn 200.000.000đ và lãi suất theo theo quy định của pháp luật từ ngày 11/02/2024 AL đến ngày xét xử, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 25/07/2024 bà P thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu bà G, ông H, anh Q trả vốn vay cho bà 200.000.000đ, không yêu cầu phần lãi suất.

Trong quá trình tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị G (không có yêu cầu phản tố) trình bày và yêu cầu:

Bà G thừa nhận tháng 7/2023 AL bà G vay của P 150.000.000đ, trả được 100.000.000đ, còn nợ lại 50.000.000đ, mỗi tháng bà đóng lãi suất 3%/tháng cho bà P. Sau đó, chị dâu bà G là bà Phạm Thị C1 có sang nợ của bà G phần tiền bà G đang nợ tiền bà C1 sang cho bà P với số tiền 180.000.000đ, nên Bà G đến gặp bà P để chốt số nợ là 180.000.000đ do bà C1 chuyển nợ để bà G trực tiếp trả cho bà P 30.000.000đ, nên số nợ bà phải trả cho bà P là 200.000.000đ, nên bà tự viết biên nhận nợ đề ngày 11/7/2023 AL là vay 200.000.000 đồng của bà P (bà G thừa nhận có lăn tay điểm chỉ trong biên nhận nợ ngày 11/7/2023 AL đưa cho bà P) kèm nội dung “Gái đưa P cái bộ” là giấy CNQSDĐ do con trai bà G là Trịnh Đình Vũ Q đứng tên QSD đất.

Bà G khai có đóng lãi cho bà P số tiền vay 200.000.000đ từ ngày 11/7/2023 âm lịch đến hết tháng 11/01/2024 tháng giêng AL nhưng không nhớ số tiền bao nhiêu, bà yêu cầu bà P trả lại giấy chứng nhận QSD đất cho Trịnh Đình Vũ Q con bà đứng tên, bà đồng ý trả trước cho bà P 50.000.000 đồng trong số nợ 200.000.000 đồng cho bà P, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Cốc H (không có yêu cầu độc lập) trong qua trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm ông H khai:

Ông đồng ý cùng với bà G trả trước cho bà P 50.000.000 đồng, yêu bà P trả lại giấy CNQSDĐ do Trịnh Đình Vũ Q đứng tên, số tiền còn lại 150.000.000 đồng ông sẽ trả cho bà C1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Đình Vũ Q (con bà G, không có yêu cầu độc lập trong vụ án), không có văn bản trình bày ý kiến, vắng mặt khi giải quyết vụ án không lý do.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 288, Điều 317, Điều 319, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 179 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị P đối với bà Nguyễn Thị G, ông Trịnh Cốc H về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

- Buộc bà Nguyễn Thị G, ông Trịnh Cốc H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị P số tiền vốn 200.000.000đ.

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị P buộc anh Trịnh Đình Vũ Q phải có nghĩa vụ liên đới với bà Nguyễn Thị G trả cho bà Phạm Thị P số tiền vốn 200.000.000đ.

- Buộc bà Phạm Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị G 01 bản chính giấy chứng nhận QSDĐ số CS06011, tờ bản đồ số 36, thửa số 335, diện tích 1378m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 17/4/2023 cho Trịnh Đình Vũ Q đứng tên.

Án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa, bà G xác định biên nhận nợ ngày 11/7/2023 AL vay 200.000.000 đồng của bà P do bà G viết và lăn tay điểm chỉ đưa cho bà P, hiện tại còn nợ bà P 200.000.000 đồng vốn vay, bà G kháng cáo xin giảm ½ số tiền 200.000.000 đồng vốn vay còn nợ của bà P, ngoài ra không yêu cầu gì khác và không bổ sung chứng cứ mới. Theo đó bà G, ông H (chồng bà G) cho rằng tiền vay do bà G ký xác nhận nợ với bà P liên quan đến tiền hụi bà Phạm Thị C1, bà Phạm Thị P chưa trả cho bà.

Tại phiên tòa, ông Thái Văn C đại diện theo ủy quyền cho bà P xác định bà G vay 200.000.000 đồng (có biên nhận) chứ không phải chơi hụi như bà G khai, ông không đồng ý giảm nợ ½ số tiền 200.000.000 đồng cho bà G như bà G yêu cầu tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ do Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định.

- Về nội dung: Tại phiên tòa, bà G thừa nhận hiện còn nợ bà P 200.000.000 đồng vốn vay, bà G kháng cáo xin giảm ½ số tiền 200.000.000 đồng vốn vay còn nợ của bà P, phù hợp với chứng cứ đã phân tích, nhận định. Do đó, bản án sơ thẩm tuyên buộc bà G, ông H liên đới trả cho bà P số tiền vốn vay 200.000.000 đồng, tuyên buộc bà P giao trả cho bà Nguyễn Thị G 01 bản chính giấy chứng nhận QSDĐ số CS06011, tờ bản đồ số 36, thửa số 335, diện tích 1378m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 17/4/2023 cho Trịnh Đình Vũ Q đứng tên là có căn cứ đúng pháp luật, bà G kháng cáo xin giảm ½ số tiền 200.000.000 đồng vốn vay của bà P, nhưng không được ông C đại diện theo ủy quyền cho bà P đồng ý, nên không có căn cứ xem xét kháng cáo của bà G, đề nghị Hội đồng xét xử phúc xử không chấp nhận kháng của bà G, giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc bà G chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tòa sơ thẩm tuyên án ngày 25/07/2024, ngày 01/08/2024 bà G kháng cáo xin giảm ½ số tiền 200.000.000 đồng vốn còn nợ bà P và nộp án phí phúc thẩm đúng quy định, nên kháng cáo của bà G được xem xét theo trình tự phúc thẩm, các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm đã tuyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.

[1.2] Tòa phúc thẩm đã triệu tập hợp lệ ông Q (con bà G) nghe xét xử phúc thẩm, nhưng vắng mặt không lý do, nên vụ án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung như Kiểm sát viên đề nghị là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bà G kháng cáo xin giảm ½ số tiền 200.000.000 đồng vốn vay con nợ bà P thì thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà G xác định hiện còn nợ bà P 200.000.000 đồng vốn vay chưa thanh toán, bà G xin giảm ½ số tiền 200.000.000 đồng vốn vay còn nợ bà P do hoàn cảnh khó khăn, lời thừa nhận của bà G tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với chứng cứ yêu cầu khởi kiện của bà P là biên nhận nợ ngày 11/7/2023 AL vay 200.000.000 đồng do bà G viết và lăn tay điểm chỉ đưa cho bà P để vay của bà P 200.000.000 đồng như bà P trình bày. Do đó, bản án sơ thẩm tuyên xử, buộc bà G, ông H liên đới trả cho P 200.000.000 đồng vốn vay, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P buộc anh Trịnh Đình Vũ Q (con bà G) liên đới với bà G trả cho bà P số tiền 200.000.000 đồng, buộc bà Phạm Thị P trả cho bà Nguyễn Thị G 01 bản chính giấy chứng nhận QSDĐ số CS06011, tờ bản đồ số 36, thửa số 335, diện tích 1378m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 17/4/2023 do Trịnh Đình Vũ Q đứng tên QSD đất là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bà G kháng cáo xin giảm ½ số tiền 200.000.000 đồng vốn vay còn nợ của bà P, yêu cầu này của bà G không được ông C đại diện theo ủy quyền hợp pháp cho bà P đồng ý, nên không có căn cứ xem xét kháng cáo của bà G, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như Kiểm sát viên đề nghị là đúng pháp luật. Kháng cáo của bà G không được chấp nhận, bà G phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Nếu bà G khó khăn về kinh tế sẽ được xem xét tại giai đoạn Thi hành án theo quy định pháp luật, liên quan đến tiền nợ hụi giữa bà G với bà Phạm Thị C1, bà Phạm Thị P do ông H (chồng bà G) và bà G khai tại phiên tòa phúc thẩm, nội dung tiền hụi này này cấp sơ thẩm không thụ lý giải quyết, nên cấp phúc thẩm không xem xét, nếu có chứng cứ chứng minh bà Phạm Thị C1, bà Phạm Thị P nợ tiền hụi bà G, thì bà G được quyền khởi kiện Phạm Thị C1, bà Phạm Thị P bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

[3] Các phần nội dung khác của Bản án sơ thẩm đã tuyên, không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Phúc xử:

- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị G.

- Giữ nguyên Bản án số: 33/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 288, Điều 317, Điều 319, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 179 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị P đối với bà Nguyễn Thị G, ông Trịnh Cốc H về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Buộc bà Nguyễn Thị G, ông Trịnh Cốc H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị P số tiền vốn 200.000.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị P yêu buộc anh Trịnh Đình Vũ Q phải có nghĩa vụ liên đới với bà Nguyễn Thị G trả cho bà Phạm Thị P số tiền vốn 200.000.000 đồng

- Buộc bà Phạm Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị G 01 bản chính giấy chứng nhận QSDĐ số CS06011, tờ bản đồ số 36, thửa số 335, diện tích 1378m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 17/4/2023 cho Trịnh Đình Vũ Q đứng tên.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị G, ông Trịnh Cốc H phải chịu 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.

- Bà Phạm Thị P không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 5.581.000đ đã nộp theo biên lai thu số: 0012418 ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.

Về án phí dân sự phúc thẩm:

- Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí do bà G đã nộp theo biên lai thu số 0012691 ngày 06/8/2024 tại Chi cục Thi hành án huyện Tri Tôn.

- Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Tri Tôn;
  • - VKSND huyện Tri Tôn;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn;
  • - VP tòa án tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 257/2024/DS-PT ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 257/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger