|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ H Bản án số: 257/2020/DS-ST Ngày: 19/8/2020 V/v: Tranh chấp đòi tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thái Hoàn Xanh
2. Bà Trần Quang Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K: Bà Đặng Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 417/2019/TLST-DS ngày 24 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2020/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 373/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964;
Địa chỉ: số 30 đường số B, Phường M, quận T, Thành Phố H.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Hồ T; địa chỉ: số 18/5 khu phố 4, phường T, Quận M, Thành phố H. (Có mặt)
(Giấy ủy quyền số 031513; Quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/10/2019). - Bị đơn: Bà Trần Thị Lan T, sinh năm 1972; (Vắng mặt)
Địa chỉ: số 225/57 đường T, phường P, quận K, Thành Phố H. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Thiều Phú D, sinh năm 1969; (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: số 225/57 đường T, phường P, quận K, Thành Phố H. - - Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962; (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: số 30 đường số B, Phường M, quận T, Thành Phố H.
- - Ông Thiều Phú D, sinh năm 1969; (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03/9/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị Hồ T trình bày:
Ngày 12/3/2015, bà Nguyễn Thị T cho bà Trần Thị Lan T mượn số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), bà T có viết giấy tay làm tin, ký tên và hứa 01 năm sẽ trả lại cho bà T. Tổng cộng bà T đã trả cho bà T 04 lần với tổng số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), cụ thể: lần 1 ngày 01/11/2016 trả 100.000.000 đồng, lần 2 ngày 24/01/2017 trả 100.000.000 đồng, lần 3 ngày 21/9/2017 trả 50.000.000 đồng, lần 4 ngày 20/6/2018 trả 50.000.000 đồng. Từ 2018 đến nay, bà T đã nhiều lần liên hệ nhưng bà T chỉ hứa hẹn mà không tiếp tục trả tiền cho bà.
Do đó, nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T trả cho bà T số tiền là 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng), không yêu cầu tiền lãi và yêu cầu trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Số tiền bà T cho bà T mượn là tiền riêng của cá nhân bà T, ông Nguyễn Văn S (là chồng bà T) không biết và không có liên quan. Đồng thời bà T cũng không yêu cầu trách nhiệm liên đới của ông Thiều Phú D (chồng bà T) trong việc trả số tiền trên do đây là việc vay mượn riêng giữa bà và bà T, ông D không có mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị Lan T trình bày:
Do quen biết nên bà T có cho bà mượn tiền nhiều lần, tổng số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Bà có ký xác nhận giấy tay với bà T. Sau đó bà đã trả tiền gốc nhiều lần, hiện chỉ còn nợ lại bà T số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) như bà T trình bày là đúng. Nay do điều kiện kinh tế khó khăn nên bà chưa trả được số tiền nợ này cho bà T. Bà xin bà T cho thời gian để trả hết số tiền nợ này. Việc bà mượn tiền của bà T không liên quan đến ông Thiều Phú D (là chồng bà) do bà sử dụng số tiền đó để làm việc cá nhân, ông D không biết. Bà yêu cầu tự chịu trách nhiệm trả nợ cho bà T, không liên quan đến ông D.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S trình bày:
Ông là chồng của bà Nguyễn Thị T, số tiền mà bà T cho bà T mượn không liên quan đến ông và ông cũng không có ý kiến gì. Ông xin vắng mặt khi tòa án hòa giải, xét xử và tất cả các giai đoạn khác để giải quyết vụ kiện.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Thiều Phú D trình bày:
Ông là chồng của bà Trần Thị Lan T, số tiền mà bà T mượn của bà T ông không liên quan, không biết và cũng không có ý kiến gì. Ông xin tòa án giải quyết, hòa giải, xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét Đơn khởi kiện của nguyên đơn và Giấy mượn tiền viết tay của bị đơn. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp đòi tài sản. Do bị đơn bà Trần Thị Lan T cư trú tại quận K nên Tòa án nhân dân quận K thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thời hiệu khởi kiện: Đây là tranh chấp dân sự về kiện đòi tài sản nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự.
- Về thủ tục tố tụng xét xử vắng mặt bị đơn: Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn bà Trần Thị Lan T vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Trần Thị Lan T.
[2]. Xét các yêu cầu của các đương sự:
- Xét yêu cầu trả số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi: Hội đồng xét xử xét thấy giữa nguyên đơn và bị đơn có sự việc vay mượn tiền (bị đơn thừa nhận chữ viết và chữ ký trong các giấy mượn tiền). Do đó, đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Giấy mượn tiền viết tay và sự thừa nhận của cả nguyên đơn và bị đơn thể hiện bà T có thiếu bà T số tiền 700.000.000 đồng nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bà T trả số tiền 700.000.000 đồng là có cơ sở theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 177, Điều 196, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điều 155, Điều 166, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Buộc bị đơn bà Trần Thị Lan T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T số tiền 700.000.000 đồng theo Giấy mượn tiền ngày 12/3/2015. Trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Lan T chịu số tiền 32.000.000 đồng. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 16.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị T theo Biên lai thu số 0012817 ngày 24/9/2019.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Trang |
Bản án số 257/2020/DS-ST ngày 19/08/2020 của Tòa án nhân dân quận K, Thành phố H về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 257/2020/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2020
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận K, Thành phố H
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản
