Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 256/2024/HS-ST

Ngày: 30-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lục Kim Thanh;
  2. Ông Lê Văn Đặng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 247/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn P, sinh năm 2004, tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Khu phố L, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1980 và bà Lê Thị P1, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
  2. Đinh Lành N, sinh năm 1997, tại tỉnh Long An; hộ khẩu thường trú tại: Ấp E, xã V, huyện T, tỉnh Long An; tạm trú: Khu phố L, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công dân; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Đinh Văn M, sinh năm 1963 và bà Ngô Thị T, sinh năm 1969; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh năm 2003; bị cáo có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
  3. Trần Văn H, sinh năm 1980, tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Khu phố L, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công dân; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị D (đã chết); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị N1, sinh năm 1979; bị cáo có 04 con (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
  4. Phạm Vũ P2, sinh năm 1998, tại tỉnh Trà Vinh; hộ khẩu thường trú tại: Ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; tạm trú: ấp D, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn P3, sinh năm 1962 và bà Cô Thị M1, sinh năm 1961; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Trần Văn P, Đinh Lành NTrần Văn H cùng ở trọ tại nhà trọ Đỗ Minh Q thuộc ấp L, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên quen biết với nhau. Bị cáo Phạm Vũ P2 là bạn của bị cáo P.

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 10/3/2024, bị cáo P rủ bị cáo N chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức chơi Binh Xập Xám thì bị cáo N đồng ý. Sau đó, bị cáo N tự bỏ ra 100.000 đồng đi mua 02 bộ bài Tây và nước ngọt rồi đem ra khoảng đất trống phía sau nhà trọ để đợi bị cáo P. Trong lúc ngồi đợi bị cáo P, bị cáo N thấy bị cáo H đang đi ngang qua thì bị cáo N rủ bị cáo H cùng tham gia đánh bạc. Lúc này, bị cáo P đang ở trong phòng trọ sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo F9, gọi qua ứng dụng Zalo trên điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro của bị cáo P2 rủ đánh bạc thì bị cáo P2 đồng ý. Khoảng 10 phút sau, bị cáo P2 đi bộ qua phòng trọ của bị cáo P rồi cả hai đi ra chỗ bị cáo N và bị cáo H để chơi đánh bạc.

Cách thức chơi bài Binh Xập Xám thắng thua bằng tiền của cả nhóm như sau: Mỗi người chơi làm cái 02 ván. Mỗi người sẽ được chia 13 lá bài, xếp thành 3 chi. Chi đầu và chi hai gồm 5 lá bài, chi cuối gồm 3 lá bài. Người chơi phải sắp xếp sao cho chi trước mạnh hơn chi sau. Sau đó, so sánh từng chi với nhau để phân thắng thua. Mỗi ván quy định thắng thua là 150.000 đồng.

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày lực lượng Công an xã A, thị xã B đến kiểm tra hành chính nhà trọ Đỗ Minh Q phát hiện các bị cáo P, N, HP2 đang chơi Binh Xập Xám thắng thua bằng tiền lập biên bản vụ việc, thu giữ:

  • - 02 bộ bài Tây loại 52 lá (01 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ chưa sử dụng); 01 tấm bạt màu trắng kích thước 1,7m x 1,8m đã qua sử dụng;
  • - Số tiền 1.800.000 đồng trên chiếu bạc 3.450.000 đồng trên người, trong đó: Đinh Lành N là 1.400.000 đồng và Trần Văn P là 2.050.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9, màu đỏ của bị cáo Trần Văn P; 01 điện thoại Iphone 11 Pro, màu đen, dung lượng 64GB của bị cáo Phạm Vũ P2.

Sau đó, vụ việc được Công an xã A chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn P, bị cáo Đinh Lành N, bị cáo Trần Văn H và bị cáo Phạm Vũ P2, khai nhận như sau:

  • - Trần Văn P khai: Bị cáo P mang theo 2.300.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo P thắng được số tiền 350.000 đồng, bị thu giữ 600.000 đồng trên chiếu bạc và 2.050.000 đồng trên người.
  • - Đinh Lành N khai: Bị cáo N mang theo 1.600.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo N thua 100.000 đồng, bị thu giữ 100.000 đồng trên chiếu bạc và 1.400.000 đồng trên người.
  • - Trần Văn H khai: Bị cáo H mang theo 500.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo H thua 50.000 đồng, bị thu giữ 450.000 đồng trên chiếu bạc.
  • - Phạm Vũ P2 khai: Bị cáo P2 mang theo 850.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo P2 thua 200.000 đồng, bị thu giữ 650.000 đồng trên chiếu bạc.

Tổng số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo Trần Văn P, Đinh Lành N, Trần Văn HPhạm Vũ P2 là 5.250.000 đồng, trong đó: Tiền thu trên chiếu bạc là 1.800.000 đồng, tiền thu trên người dùng để đánh bạc là 3.450.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo như Cáo trạng số 251/CT-VKSBC ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt chính đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Lành N từ 22.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 20.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Vũ P2 từ 20.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng.
  • * Về biện pháp tư pháp: Căn cứ quy định tại các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát tuyên:
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 5.250.000 đồng dùng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9, màu đỏ của bị cáo Trần Văn P và 01 điện thoại Iphone 11 Pro, màu đen của bị cáo Phạm Vũ P2, là phương tiện các bị cao sử dụng liên lạc để phạm tội.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài Tây loại 52 lá (01 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ chưa sử dụng); 01 tấm bạt màu trắng kích thước 1,7m x 1,8m đã qua sử dụng;

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã tóm tắt và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên toà, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm theo quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng 21 giờ đến 21 giờ 30 phút ngày 10/3/2024, tại khoảng đất trống cuối Nhà trọ Đỗ Minh Q thuộc ấp L, xã A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, các bị cáo Trần Văn P, Đinh Lành N, Trần Văn HPhạm Vũ P2 đã có hành vi cùng nhau tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi Binh Xập X, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 5.250.000 đồng. Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 251/CT- VKSBC ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, đủ khả năng để nhận thức được đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an ninh trật tự an toàn xã hội, chỉ vì ham lợi, mong muốn kiếm tiền nhanh không phải mất nhiều công sức lao động mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Đánh bạc là một tệ nạn đang bị xã hội lên án, là một trong những nguyên nhân kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết hành vi đánh bạc là trái pháp luật nhưng vì ý thức xem thường pháp luật nên các bị cáo đã cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như:

[4.1] Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc tường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Các bị cáo Trần Văn P, Đinh Lành N, Trần Văn H có trình độ học vấn thấp. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[6] Về nhân thân: Trước thời điểm xảy ra hành vi phạm tội, các bị cáo có nhân thân tốt.

[7] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, những người tham gia đánh bạc đều giữ vai trò thực hành. Bị cáo P là người khởi sướng rủ rê bị cáo N và gọi qua ứng dụng Zalo rủ bị cáo P2 tham gia đánh bạc. Bị cáo N là đi mua bộ bài Tây, mua nước ngọt và rủ bị cáo H tham gia đánh bạc. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào vào trò, tính chất hành vi của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.

[8] Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm về an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo nhằm răng đe giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền dùng để đánh bạc không lớn nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn có khả năng tự cải tạo và không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại điều 35 của Bộ luật Hình sự.

[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

[9.1] Đối với 01 bộ bài tây là chưa qua sử dụng; 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) tấm bạc màu trắng kích thước 1,7mx1,8m, đã qua sử dụng. Xét thấy, đây là công cụ các bị cáo dùng để đánh bạc, là vật chứng không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.

[9.2] Đối với số tiền Việt Nam 5.250.000 đồng (gồm 1.800.000 đồng thu trên chiếu bạc và thu trên người bị cáo Đinh Lành N số tiền 1.400.000 đồng, thu trên người bị cáo Trần Văn P số tiền 2.050.000 đồng). Xét, đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội hay có được từ việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

[9.3] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, dung lượng 64GB của bị cáo Phạm Vũ P2; 01 điện thoại di động OPPO F9, màu đỏ của bị cáo Trần Văn P. Xét, đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, căn cứ điều luật, xử lý vật chứng đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo N là chưa phù hợp nên không chấp nhận.

[11] Về án phí sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn P, Đinh Lành N, Trần Văn HPhạm Vũ P2 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Trần Văn P số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Đinh Lành N số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Trần Văn H tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Phạm Vũ P2 số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  3. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Hủy biện pháp ngăn chặn với các bị cáo Trần Văn P, Đinh Lành N, Trần Văn H, Phạm Vũ P2 theo các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 104, 105, 106, 107/LCĐKNCT ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây là chưa qua sử dụng; 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) tấm bạc màu trắng kích thước 1,7m x 1,8m, đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 5.250.000 (năm triệu, hai trăm năm mươi ngàn) đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, dung lượng 64GB (máy bị trầy xước, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu đỏ (máy bị trầy xước, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
    • (Theo Giấy nộp tiền ngày 17/9/2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B nộp vào tài khoản 3949.0.1046035 mở tại Kho bạc Nhà nước thành phố B, tỉnh Bình Dương và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát).
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Trần Văn P, Đinh Lành N, Trần Văn H, Phạm Vũ P2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/9/2024)./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Công an TP. Bến Cát;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Bến Cát ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Bến Cát ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Quang Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 256/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương về đánh bạc

  • Số bản án: 256/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Ph + ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger