|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 256/2024/HS-ST Ngày 27-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Kiểm
Ông Nguyễn Hồng Đại
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, hành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 248/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 612/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
- Nguyễn Duy N ngày 29/01/1989 tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Thôn Đ, xã T, huyện K, thành phố H sinh sống: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy V bà Phạm Thị L có vợ con; tiền án: Bản án số 12/2016/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2016, Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn D N24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội ngày 01/6/2016 (chưa được xóa án tích); Bản án số 48/2016/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2016, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử Nguyễn D N12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội từ cuối tháng 9/2015, giá trị tài sản trộm cắp là 16.450.000 đồng. Tổng hợp với 24 tháng tù theo bản án số 12/2016/HSST ngày 27/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, buộc Duy N1 chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 36 tháng tù giam. Duy Nam chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/11/2018 (chưa được xóa án tích); Bản án số 172/2020/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2020, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử Nguyễn D N30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thực hiện hành vi phạm tội ngày 05/8/2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2022 (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 16/5/2024, đến ngày 22/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Ngô Văn N1 sinh ngày 12/3/2002 tại Nghệ An; nơi ĐKTT: Xóm D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An nơi sinh sống: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn K bà Nguyễn Thị T có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 16/5/2024, đến ngày 22/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 16/5/2024, tại khu vực trước cửa nhà số A A tập thể V, phường V, quận N, H Phòng Công an phường V quả tang Nguyễn Duy N2 Ngô Văn N1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ: 01 gói giấy kích thước khoảng 1x2cm chứa chất bột màu trắng (mẫu số 1) do Duy N3 lấy trong túi quần ra vứt xuống đất; 01 gói giấy kích thước khoảng 1x2cm chứa chất bột màu trắng (mẫu số 2) do V1 N1 đang cầm trên tay vội vứt xuống đất ngay cạnh xe mình. Thu giữ của D N01 điện thoại Mastel gắn sim số 0792.188.xxx, 01 ví màu đen, 01 thẻ ngân hàng A số tiền 587.000 đồng; thu của Văn N1 01 điện thoại redmi 12C màu đen gắn sim số 0377412206, 01 xe mô tô Jupiter màu xanh BKS 16R8-9297. Ngô Văn H1 (sinh năm: 2004, nơi thường trú: xóm D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An hiện không có nơi ở cố định) là em trai của Ngô Văn N1 có mặt tại nơi bắt giữ chứng kiến sự việc.
Mẫu thử nước tiểu của Nguyễn Duy N4 tính với test thử các chất ma túy MH1M1 Mẫu thử nước tiểu của N23 tính với test thử các chất ma túy MH1 Mẫu thử nước tiểu của Ngô Văn H2 tính với test thử các chất ma túy.
Kết luận giám định số 606/KL-KLHS ngày 21/5/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:
- Chất bột màu trắng của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,07 gam, loại Heroine (H
- Chất bột màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,20 gam, loại Heroine (H
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận: Tối ngày 16/5/2024, N24 là Ngô Văn H3 mua điện thoại di động ở khu vực đường Đ, quận N, H H sử dụng.
Trước khi đi, V1 N1 nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng cho bản thân nhưng không nói cho H4. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, V1 N1 sử dụng số điện thoại số 0377.412.xxx của mình gọi đến số điện thoại 0792.188.xxx của Nguyễn Duy N5 mua 500.000 đồng ma túy Heroine, Duy N6 ý và hẹn gặp Văn N1 ở khu vực trước cửa Ngân hàng N25 – Chi nhánh N26, Hải Phòng (viết tắt là A đối diện chợ V4, quận N, H Phòng Sau đó, V1 N1 điều khiển xe mô tô JUPITER màu xanh BKS: 16R8-9297 chở H từ khu vực Đ, quận H, H Phòng đến điểm hẹn. Khi đến nơi, H5 chờ trên xe mô tô còn V1 N1 và D di chuyển đến khu vực cây ATM của A để giao dịch mua bán ma túy. Tại đây, V1 N1 chuyển 500.000 đồng từ tài khoản số 12032002 tại ngân hàng L1 mình đến tài khoản số 2109205283673 tại ngân hàng A đó Duy N7 cây ATM rút tiền rồi mượn xe của V1 N1 đi đến khu vực ngõ B đường Đ, phường V, quận N và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 400.000 đồng tiền mặt được 02 gói ma túy. Mua được ma túy, Duy N8 01 gói ma túy vừa mua vào trong túi quần đang mặc và cầm 01 gói ma túy còn lại, quay về gặp V Do Duy N9 đi nhờ xe về khu tập thể A17 Vạn Mỹ nên Duy N10 khiển xe, V1 N1 ngồi giữa và H5 phía sau cùng. Trên đường đi, D1 đưa vào tay Văn N11 01 gói ma túy Heroine. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi cả nhóm đến khu vực trước cửa nhà số A A tập thể V, phường V, quận N, H bị Công an phường V phát hiện, bắt quả tang. Bên cạnh đó, Duy N12 khai khi bán ma túy cho V1 N1 sẽ được hưởng lợi 100.000 đồng và 01 gói ma túy cất giấu, mục đích để bán cho người khác; Ngô Văn H6 không biết và không tham gia vào việc mua bán ma túy giữa Văn N1 và D
Dữ liệu từ điện thoại thu giữ, tài liệu trích sao kê tài khoản ngân hàng thể hiện lịch sử các cuộc gọi điện thoại, nội dung giao dịch chuyển khoản liên quan đến hành vi phạm tội như trên.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
- Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý 01 phong bì niêm phong số 606MT/PC09 bên trong chứa 0,08 gam ma túy Heroine và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại di động Masstel gắn sim 0792.188.xxx; 01 điện thoại di động Redmi 12C màu đen gắn sim 0377412206; số tiền 587.000 đồng; 01 ví màu đen; 01 thẻ ngân hàng A
- Đối với xe mô tô JUPITER BKS 1688-9297 có số máy là số nguyên thủy nhưng số khung đã bị tẩy xóa, không xác định được số nguyên thủy. Đăng ký xe mang tên ông Lê Đức T1 (sinh năm: 1962, địa chỉ: khu F, H, H Phòng Tháng 5/2024, ông T1 bán xe cho anh Nguyễn Công V2 (sinh năm: 1992, địa chỉ: thôn E, S, Thanh Hóa Ông T1 và anh V1 không biết việc số khung bị tẩy xóa; anh V1 cho Ngô Văn N1 mượn xe để đi lại không biết việc V1 N1 sử dụng để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 2298 ngày 14/8/2024 đối với chiếc xe mô tô trên để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Tại Bản Cáo trạng số 243/CT-VKSNQ ngày 10/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy N13 tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Ngô Văn N14 tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm q (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N15 mức án từ 8 năm 06 tháng đến 9 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn N16 mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì dấu niêm phong số 606MT/PC09 bên trong chứa 0,08 gam ma túy Heroine và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định, sim điện thoại số 0792.188.xxx, sim điện thoại số 0377.412.xxx; Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Masstel của Nguyễn Duy N15, 01 điện thoại di động Redmi 12C màu đen của Ngô Văn N16, 500.000 đồng là tiền bán ma tuý của Nguyễn Duy N15; trả lại bị cáo Nguyễn Duy N17 tiền 87.000 đồng; 01 ví màu đen; 01 thẻ ngân hàng A Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận N Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Lời khai của các bị cáo Nguyễn Duy N và Ngô Văn N18 tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, khẳng định: Khoảng hơn 20 giờ ngày 16/5/2024, tại khu vực tập thể V, phường V, N, Hải P cáo Nguyễn Duy N19 thực hiện hành vi bán trái phép 0,2 gam ma túy Heroine cho N27 đã cất giữ trái phép 01 gói ma túy có khối lượng 0,07 gam với mục đích để bán hưởng lợi. Bị cáo Ngô Duy N20 thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,2 gam ma túy Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường V phát hiện bắt quả tang.
[3] Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Duy N15 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Ngô Văn N18 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Duy N21 bị cáo Nguyễn Duy N19 có 03 tiền án đều chưa được xoá án tích; trong đó tiền án cuối cùng là Bản án số 172/2020/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử Nguyễn D N30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại bản án đã xác định bị cáo là tái phạm, chưa được xoá án tích. Vì vậy lần phạm tội này bị cáo bị xác định là “tái phạm nguy hiểm” nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[5] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng quy định của pháp luật.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và quyết định hình phạt:
[7] Hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù, cải tạo tại cơ sở giam giữ mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần cho các bị cáo do các bị cáo đều thành khẩn khai báo.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Các bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 các điều 249, 251 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Bộ luật Tố tụng Hình sự Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì dấu niêm phong số 606MT/PC09 bên trong chứa 0,08 gam ma túy Heroine và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định, sim điện thoại số 0792.188.xxx, sim điện thoại số 0377.412.xxx do đây là vật cấm lưu hành và công cụ, phương tiện phạm tội; Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Masstel của Nguyễn D N01 điện thoại di động Redmi 12C màu đen của Ngô Văn N22 đồng do đây là công cụ, phương tiện phạm tội, tiền bán ma tuý; trả lại bị cáo Nguyễn Duy N17 tiền 87.000 đồng; 01 ví màu đen; 01 thẻ ngân hàng A không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Về án phí:
[10] Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[11] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ Luật Hình sự (đối với bị cáo Duy N15; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo Văn N18); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Duy N15 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Bị cáo Ngô Văn N18 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Duy N15 8 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2024.
Bị cáo Ngô Văn N18 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2024
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì dấu niêm phong số 606MT/PC09 bên trong chứa 0,08 gam ma túy Heroine và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định, sim điện thoại số 0792.188.xxx, sim điện thoại số 0377.412.xxx.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Redmi 12C màu đen và thu của Ngô Văn N18; 01 điện thoại di động Masstel và số tiền 500.000 đồng thu của Nguyễn Duy N15.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Duy N17 tiền 87.000 đồng; 01 ví màu đen; 01 thẻ ngân hàng A
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/9/2024 và Biên lai thu tiền số 0008802 ngày 23/9/2024 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Duy N Ngô V3 N1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Các bị cáo Nguyễn Duy N Ngô V3 N1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
Bản án số 256/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 256/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nam Nam
