Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 256/2024/HS-ST

Ngày: 23/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

* Xét xử trực tuyến tại điểm cầu trung tâm- Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa:

-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quản Văn Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Lung

Bà Trần Thị Thanh Vân

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Anh- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Lương Thúy Hà - Kiểm sát viên

* Điểm cầu thành phần: Tại Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 220/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXX-HS ngày 12/8/2024, đối với các bị cáo:

  1. Đậu Minh Đ, tên gọi khác: Không, giới tính: N, sinh năm: 1989; Nơi đăng ký NKTT: Xóm A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 09/12; Con ông Đậu Minh L và bà Phạm Thị L1; có vợ là Võ Hà M và 02 con (con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 144/2011/HSPT ngày 23/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, Bản án số 50/2011/HSST ngày 30/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 26/2014/HSST ngày 22/5/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản- Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại bản án số 144/2011/HSPT của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2014, Bản án số 289/2017/HSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2017 (ra trại ngày 29/02/2020); Danh bản, chỉ bản số: 258 ngày 01/4/2024 do Công an quận Đ lập; Tạm giữ, tạm giam: Đầu thú ngày 22/3/2024, tạm giữ ngày 23/3/2024 đến ngày 29/3/2024 được áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ tên: Lê Tuấn A, giới tính: N, sinh năm: 1989, tên gọi khác: Không; HKTT: Tổ D N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 09/12; Con ông Lê Đức T và bà: Đậu Thị T1 (đã chết); Tiền án/tiền sự: Không; Bản án số 281/HSST/2022 ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 04 tháng 04 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản không coi là tiền án; D bản, chỉ bản số: 509 ngày 19/6/2024; Tạm giữ, tạm giam: Đầu thú ngày 16/6/2024, tạm giữ ngày 16/6/2024 đến ngày 19/6/2024 được áp dụng biện pháp tạm giạm cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại Công ty cổ phần K; Địa chỉ: Tầng B tòa A, Tòa nhà H, số C L, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội; Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn A1. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị N1, sinh năm 1985; HKTT: Đội 10, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định; Trú tại: Số E, ngõ C, phố N, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Lê Tuấn AĐậu Minh Đ bị Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 20h30' ngày 22/5/2022, anh Nguyễn Văn H là bảo vệ tại khu vực công trường số 1152 đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội phát hiện 02 đối tượng nam giới trèo rào chắn vào công trường. Sau khi kiểm tra đã bắt giữ Lê Tuấn A, đối tượng còn lại đã bỏ trốn. Tổ bảo vệ đã báo và phối hợp cùng Công an phường L đưa Tuấn A về trụ sở làm rõ.

Tại cơ quan Công an, Lê Tuấn A khai nhận người trèo rào cùng Tuấn AĐậu Minh Đ cùng là công nhân thi công tại công trường M04, Lancaster, số A đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội. Do thiếu tiền ăn tiêu, nên Tuấn AĐ bàn bạc với nhau khi hết giờ làm việc sẽ trộm cắp dây cáp điện tại tầng hầm B1 của công trường. Khoảng 17h30' ngày 22/5/2022, Đ mang theo kìm cùng Tuấn A đến khu vực hầm B1 để cắt trộm dây cáp điện. Đ là người trực tiếp dùng kìm để cắt 67,6 mét dây cáp điện thành nhiều đoạn ngắn còn Tuấn A đứng cảnh giới. Do đang trong thời gian làm việc nên Tuấn AĐ chia nhau cuốn đoạn 25,8 mét đã được cắt thành 06 đoạn nhỏ để quấn trong người và mặc áo phủ ngoài rồi đi qua lối cổng chính ra ngoài. Sau đó, cả hai đến cửa hàng thu mua sắt vụn tại số nhà E, ngõ C, phố N bán cho chị Bùi Thị N1 được 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng). Cả hai đã ăn tiêu hết số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng), còn lại 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Còn lại 41,8 mét dây cáp điện Đ đã cắt ngắn và để lại trong hầm. Đến khoảng 20h30' ngày 22/5/2022, Tuấn AĐ tiếp tục rủ nhau đi trộm cắp dây cáp điện. Tuấn AĐ đi bộ đến khu vực hàng rào phía sau công trường, ngõ A, đường L, trèo qua hàng rào vào khu vực công trường. Tuấn A đứng ngoài cảnh giới còn Đ vào trong hầm B1 cho các đoạn dây cáp điện đã cắt ngắn còn lại trước đó vào 01 ba lô và mang đi. Khi đi đến cửa hầm B1 thì nghe tiếng hô “trộm”, nên Đ đã bỏ lại ba lô và trèo qua hàng rào chạy thoát. Tuấn A bị bảo vệ bắt giữ. Sáng ngày 23/5/2022, tổ bảo vệ tiến hành rà soát gần khu vực bị trộm cắp thì phát hiện 41,8 mét dây cáp điện đã cắt thành nhiều đoạn nhỏ đựng trong bao tải để tại khu vực tầng 1 bên trên hầm B1.

Cơ quan Công an đã tiến hành tạm giữ tang vật gồm: 67,6 mét dây cáp điện (trong đó có 25,8 mét dây cáp điện thu giữ của chị N1 là tang vật do Tuấn AĐ trộm cắp được mang đi bán; 41,8 mét thu giữ ngày 23/5/2022 do tổ bảo vệ công trường giao nộp khi rà soát khu vực) và số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền bán dây cáp điện mà Tuấn A chưa kịp ăn tiêu hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản - UBND quận Đ kết luận: 25,8 mét dây cáp điện bao gồm cả lõi bằng kim loại màu vàng bọc lớp nhựa màu trắng và bọc ngoài cùng là lớp nhựa đen ký hiệu Cadivi CXV 50-0,6/1KV-TCVN, trị giá: 2.844.708 đồng (hai triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn bảy trăm linh tám đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 115/KL-HĐĐGTS ngày 16/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản - UBND quận Đ kết luận: 41,8 mét dây cáp điện bao gồm cả lõi bằng kim loại màu vàng bọc lớp nhựa màu trắng và bọc ngoài cùng là lớp nhựa đen ký hiệu Cadivi CXV 50-0,6/1KV-TCVN, trị giá: 4.608.868 đồng (bốn triệu sáu trăm linh tám nghìn tám trăm sáu mươi tám đồng).

Chị Bùi Thị N1 khai: Khoảng 18h30' ngày 22/5/2022, khi đang ở cửa hàng thì có hai nam thanh niên đến bán 06 đoạn dây cáp điện, với giá 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng). Chị N1 đã giao nộp số tang vật trên để phục vụ điều tra. Khi mua những đoạn dây cáp điện trên, chị N1 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với 67,6 mét dây cáp điện, cơ quan điều tra đã trao trả lại cho Công ty cổ phần K. Đại diện là ông Nguyễn Tuấn A1 đã nhận lại và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Lê Tuấn A, quá trình điều tra xác định là tiền mua dây cáp điện của chị N1, nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N1 số tiền trên. Chị N1 không có yêu cầu, đề nghị gì.

Ngày 31/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Tuấn A về tội Trộm cắp tài sản và kết luận điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố hành vi trộm cắp tài sản là 25,8 mét dây cáp điện của Công ty cổ phần kỹ thuật SigMa

Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã xét xử đối với bị cáo Lê Tuấn A về tội Trộm cắp tài sản 25,8 mét dây cáp điện, trị giá 2.844.708 đồng (hai triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn bảy trăm linh tám đồng).

Đối với Đậu Minh Đ, Cơ quan điều tra chưa xác định được Đ đang ở đâu, nên Cơ quan điều tra đã tách tài liệu đối với đối tượng Đậu Minh Đ và hành vi trộm cắp tài sản của Lê Tuấn A vào tối ngày 22/5/2022 cùng tài liệu liên quan đến 41,8 mét dây cáp điện đã thu giữ được để lập hồ sơ xác minh nguồn tin về tội phạm theo quy định để xử lý sau.

Ngày 22/3/2024, Đậu Minh Đ đến cơ quan công an đầu thú và ngày 16/6/2024 Lê Tuấn A đến cơ quan công an đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 220/CT-VKSĐĐ ngày 12/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã truy tố Đậu Minh ĐLê Tuấn A về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đậu Minh ĐLê Tuấn A về tội Trộm cắp tài sản. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đậu Minh Đ từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tuấn A từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Các bị cáo, bị hại không tranh luận; Các bị cáo chỉ đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào nội dung vụ án, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự và không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được coi là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng nêu; Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng vụ án, kết luận định giá tài sản, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17h30' ngày 22/5/2022, tại khu vực công trường số A đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội, Đậu Minh ĐLê Tuấn A lén lút cắt trộm 67,6 mét dây cáp điện của Công ty cổ phần K. Sau đó ĐTuấn A cuốn vào người tổng số 25,8 mét dây cáp điện trị giá 2.844.708 đồng đem bán cho chị Bùi Thị N1 được 2.100.000 đồng; Số 41,8 mét dây cáp điện còn lại trị giá 4.608.868 đồng các bị cáo cắt thành nhiều đoạn nhỏ đựng trong bao tải để tại khu vực hầm B1. khoảng 20h30' ngày 22/5/2022, Tuấn AĐ tiếp tục rủ nhau quay lại để lấy 41,8 mét dây cáp điện đã cất trước đó. Khi Đ cầm theo ba lô vào hầm để lấy dây cáp, Tuấn A đang đứng cảnh giới thì bị bảo vệ công trường phát hiện bắt giữ. Thấy bị lộ, Đinh đã bỏ lại 41,8 mét cáp điện rồi bỏ trốn. Vì vậy, Đậu Minh ĐLê Tuấn A đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ pháp luật.

Xét nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự, trị an địa phương. Khi xem xét đến tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo Đậu Minh Đ có nhân thân xấu, có nhiều tiền án tuy đều đã được xóa nhưng chứng tỏ bị cáo được cải tạo nhiều lần nhưng không chịu tu dưỡng bản thân; Hơn nữa Đ là người trực tiếp cắt dây cáp và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 67,6 mét cáp với tổng trị giá 6.708.868 đồng; Đối với Lê Tuấn A đã bị xét xử về hành vi trộm cắp 25,8 mét dây cáp nên lần xét xử này Tuấn A phải chịu trách nhiệm đối với 41,8 mét dây cáp điện trị giá 4.608.868 đồng. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt đối với Đậu Minh Đ nghiêm khắc hơn Lê Tuấn A.

Về tình tiết tăng nặng: Lê Tuấn A không có tình tiết tăng nặng;

Đối với Đậu Minh Đ Đại diện Viện sát đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng Phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xét thấy khoảng 17h30' ngày 22/5/2022 hai bị cáo đã lén lút lấy và cắt nhỏ tổng số 67,6 mét dây cáp có tổng trị giá 6.708.868 đồng là đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Sau đó hai bị cáo mang 25,8 mét dây cáp đi bán, cất 41.8 mét ở tầng 1 bên trên hầm B1. khoảng 20h30' cùng ngày ĐTuấn A tiếp tục vào công trường để lấy 41,8 mét cáp còn lại, hành vi này của các bị cáo chỉ là thủ đoạn tiếp theo của hành vi trộm cắp trước đó. Do vậy, hành vi của Đậu Minh Đ không thuộc trường hợp Phạm tội hai lần trở lên và Đ không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét các bị cáo đều đầu thú, có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần giảm nhẹ mức hình phạt cho hai bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Đối với trách nhiệm dân sự, vật chứng đã được giải quyết tại bản án số 281/HSST/2022 ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Đậu Minh Đ và bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).

+ Xử phạt: Bị cáo Đậu Minh Đ 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2024.

+ Xử phạt: Bị cáo Lê Tuấn A 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024

Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - Chi cục THA quận Đống Đa;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS/VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quản Văn Tiến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 256/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 256/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger