|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG B THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 256/2024/HSST Ngày: 28/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG B
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Nguyễn Đăng Vĩnh |
| Các hội thẩm nhân dân: | Ông Phùng Văn Thành |
| Ông Nguyễn Đức Thắng | |
| Thư ký toà án - ghi B bản phiên toà: | |
| - Bà Phạm Hồng Hà – Thẩm tra viên- | Tòa án nhân dân quận Long B |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long B tham gia phiên toà: | |
| - Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên |
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân quận Long B, Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Long B xét xử sơ thẩm theo hình thức rút kinh nghiệm đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 280/2024/HSST-TL ngày: 06/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: HÀ VĂN S. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Tuấn xoăn, sinh năm 1987, tại: Phú Thọ. HKTT và chỗ ở: Đội 2 xóm C, xã T, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mường. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: lớp 0/12 (chỉ biết ký và ghi họ tên). Họ tên bố: Hà Văn H, sinh năm: 1947 (đã chết). Họ tên mẹ: Đinh Thị H, sinh năm: 1957. Theo danh chỉ bản số: 482, lập ngày 22/9/2024, tại Công an quận Long B, Hà Nội, bị cáo có nhân thân:
Tiền án, tiền sự: 05 tiền án.
- + Bản án số 100/2010/HSST ngày 10/5/2010, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ra trại ngày 09/11/2010. Chưa được xóa án tích.
- + Bản án số 53/2011/HSST ngày 22/02/2011, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 08 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ra trại ngày 29/7/2011. Chưa được xóa án tích.
- + Bản án số 147/2012/HSST ngày 12/6/2012, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 12 tháng tù về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản. Ra trại ngày 14/3/2013. Chưa được xóa án tích.
- + Bản án số 173/2013/HSST ngày 22/7/2013, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 42 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ra trại ngày 14/10/2016. Chưa được xóa án tích.
- + Bản án số 41/2017/HSST ngày 22/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Yên Lập xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ra trại ngày 16/02/2021. Chưa được xóa án tích do chưa nộp án phí HSST 200.000 đồng và án phí DSST 700.000 đồng.
Xác minh việc thi hành án phí và bồi thường dân sự của các Bản án số 100/2010/HSST ngày 10/5/2010; số 53/2011/HSST ngày 22/02/2011; số 147/2012/HSST ngày 12/6/2012; số 173/2013/HSST ngày 22/7/2013 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm: Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm cho biết đã ra Quyết định ủy thác thi hành án đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ: Qua kiểm tra sổ sách, đối với 04 bản án trên của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm và Bản án số 41/2017/HSST ngày 22/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập không có đối tượng phải thi hành án nào tên Hà Văn S. Bị can Hà Văn S khai chưa thi hành án phí đối với 05 bản án trên. Tại 05 Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù xác định bị can Hà Văn S cần tiếp tục thi hành án phí và các khoản bồi thường của 05 bản án. Do đó, đủ căn cứ để xác định bị can Hà Văn S chưa thi hành phần án phí của 05 bản án trên nên chưa được xóa án tích đối với 05 bản án trên. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 13/9/2024, hiện nay tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Long B.
1/ Bị hại đã nhận lại tài sản, nhận giấy triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa:
- + Anh Nguyễn Thế T, sinh năm: 1996; HKTT: thôn Đ, xã Y, Gia Lâm, Hà Nội.
2/ Trợ giúp viên pháp lý: Bà Lưu Thùy Linh trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội, chi nhánh số 2 (Vắng mặt, gửi bản luận cứ)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12h15' ngày 12/9/2024, anh Nguyễn Thế T (Sinh ngày: 08/12/1996; HKTT: thôn Đ, xã Y, Gia Lâm, Hà Nội) sử dụng xe máy màu đen bạc Wave BKS: 99S2-3905 đi lấy 04 bưu kiện hàng về kho của công ty Giao hàng tiết kiệm tại ngõ 02 Ngô Gia Khảm, phường Ngọc Lâm, Long B, Hà Nội. Khi anh Tiến đến kho hàng của công ty thì để xe máy ở vỉa hè bên đường và đi vào kho. Khoảng 13h30' cùng ngày, Hà Văn S đi bộ lang thang đến ngõ 02 Ngô Gia Khảm thì S nhìn thấy chiếc xe máy Honda Wave BKS: 99S2-3905 để trên vỉa hè vẫn cắm chìa khóa ở ổ điện và không có người trông giữ nên S đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trên. S đến ngồi lên xe máy rồi dùng tay phải mở khóa điện của xe phóng đi. Khi S đi đến đoạn đường sắt Dốc Ga thuộc phường Ngọc Lâm, Long B thì S dừng xe tháo giá chở đồ phía sau xe cùng 04 kiện hàng ở trên xe để vào gốc cây gần đó. Sau đó, S tiếp tục lên xe máy bỏ đi sang nhà anh Đặng Hữu B (Sinh năm: 1974; Nơi cư trú: Số 126 Ngõ 1 phố G, phường T, Long B, Hà Nội) chơi. Tại đây, S bảo anh B cho S dắt chó nhà anh B đi dạo thì B đồng ý. Sau đó, S chở theo con chó bằng chiếc xe trộm cắp được đi trên phố Ngọc Lâm. Khi đến trước số 259 Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long B, Hà Nội thì bị anh Nguyễn Thế T phát hiện giữ lại báo cơ quan công an đến đưa S cùng chiếc xe về trụ sở giải quyết.
Tại cơ quan điều tra, Hà Văn S đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên cùng nhân chứng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.
Tang vật tạm giữ: 01 chiếc xe máy Honda Wave S, BKS: 99S2-3905 đã qua sử dụng thu giữ của Hà Văn S.
Cơ quan điều tra đã thân dẫn Hà Văn S đến địa điểm đoạn đường sắt Dốc Ga thuộc phường Ngọc Lâm, Long Biên nơi S bỏ giá chở đồ cùng 04 kiện hàng. Trong đó:
01 kiện hàng của chị Lê Thị Thanh B (Sinh năm: 1984; HKTT: Xóm T, xã C, Đông Anh, Hà Nội) có 01 chai dung dịch vệ sinh MRB Finish (REGULAR) 250ml; 01 chai nước làm bóng Finish 800ml; 02 Hộp muối Finish 4kg; 01 hộp viên rửa bát Finish Classic 90 viên (REGULAR) và 03 kiện hàng của chị Nguyễn Bích N (Sinh năm: 1979; HKTT: phường G, Long Biên, Hà Nội) có 03 hộp thuốc làm mọc tóc hair grow3 khối lượng 100g/01 hộp; 01 lọ sữa tắm 100g không rõ chủng loại; 01 hộp làm mi mắt Mascara 100g; 01 chai dung dịch vệ sinh MRB Finish (REGULAR) 250ml tuy nhiên số hàng trên không còn và không thu giữ được số hàng trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 135/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long B, kết luận: 01 chiếc xe máy Wave BKS: 99S2-3905, số máy JC43E-1409934, số khung 4313AY653626, trị giá: 6.250.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản bổ sung số 152/KL-HĐĐGTS ngày 14/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên, kết luận:
| TT | Tên tài sản cần định giá bổ sung | Thời điểm định giá | Kết luận về giá tài sản của Hội đồng (đồng) |
|---|---|---|---|
| 1. | 01 (một) chai dung dịch vệ sinh MRB Finish (REGULAR) 250ml mới chưa qua sử dụng | 12/9/2024 | 140.000 |
| 2. | 01 (một) chai nước làm bóng Finish 800ml mới chưa qua sử dụng | 12/9/2024 | 210.000 |
| 3. | 02 (hai) Hộp muối Finish 4kg mới chưa qua sử dụng | 12/9/2024 | 840.000 |
| 4. | 01 (một) Hộp viên rửa bát Finish Classic 90 viên (REGULAR) mới chưa qua sử dụng. | 12/9/2024 | 380.000 |
| 5. | 03 (ba) Hộp thuốc làm mọc tóc hair grow3 khối lượng 100g/01 hộp mới chưa qua sử dụng | 12/9/2024 | Chưa đủ cơ sở định giá do chủ sở hữu không cung cấp hóa đơn mua, tài liệu về thông tin kỹ thuật và tài sản chưa được thu hồi. |
| 6. | 01 (một) lọ sữa tăm 100g không rõ chủng loại mới chưa qua sử dụng | 12/9/2024 | |
| 7. | 01 (một) hộp làm mi mắt Mascara 100g mới chưa qua sử dụng | 12/9/2024 | |
| 8. | 01 (một) chai dung dịch vệ sinh MRB Finish (REGULAR) 250ml mới chưa qua sử dụng | 12/9/2024 | |
| Tổng | 1.570.000 | ||
Đối với 03 hộp thuốc làm mọc tóc hair grow3 khối lượng 100g/01 hộp; 01 lọ sữa tắm 100g không rõ chủng loại; 01 hộp làm mi mắt Mascara 100g; 01 chai dung dịch vệ sinh MRB Finish (REGULAR) 250ml nhưng chị Nguyễn Bích N không cung cấp được hóa đơn mua hàng. Do đó, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên không đủ cơ sở để định giá đối với các tài sản trên.
Đối với 01 chiếc xe máy Honda Wave S, BKS: 99S2-3905: Quá trình điều tra xác định, xe máy trên đăng ký tên bà Lê Thị Liên (Sinh năm: 1971; Nơi cư trú: Thôn Trịnh Xá, phường Châu Khê, thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh). Bà Liên khai mua chiếc xe trên tháng 09/2010 và đến năm 2021 thì cho con trai là Nguyễn Thế T sử dụng làm phương tiện đi lại. Tại Kết luận giám định số 7180/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đen xám, đeo BKS: 99S2-3905 có số khung RLHJC4313AY653626 và số máy JC43E-1409934 là nguyên thủy. Kết quả tra cứu xe không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho anh Nguyễn Thế T. Sau khi nhận tài sản, anh Tiến không có ý kiến gì.
Đối với 01 kiện hàng của chị Lê Thị Thanh B và 03 kiện hàng của chị Nguyễn Bích N: Anh Nguyễn Thế T chưa bàn giao cho Công ty Giao hàng tiết kiệm nên thuộc trách nhiệm quản lý của anh Nguyễn Thế T. Anh Tiến đã bồi thường theo giá trị vận đơn cho chị Lê Thị Thanh B, chị Nguyễn Bích N. Hiện nay, anh Nguyễn Thế T, chị Lê Thị Thanh B, chị Nguyễn Bích N không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số:262/CT-VKSLB ngày: 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long B truy tố đối với bị cáo Hà Văn S về tội: Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long B giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng, xem xét hành vi của bị cáo bị truy tố và đề nghị áp dụng, sau khi phân tích đánh giá nội dung vụ án, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết khác trong vụ án, cụ thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự về tội trộm cắp tài sản, Điều 38, điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị mức án của bị cáo Hà Văn S từ: 36 (ba mươi sáu) tháng đến: 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày: 13/9/2024. Về Dân sự đã giải quyết không xét, bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Quan điểm của trợ giúp viên pháp lý gửi đến tóm tắt: Nhất trí như nội dung bản cáo trạng, tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét yếu tố bị cáo là người ít học, trình độ văn hóa thấp do đó hạn chế phần nào nhận thức pháp luật, sinh sống vùng dân tộc có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không biết chữ. Do đó HĐXX xem xét cho bị cáo mức án thấp hơn VKS đề nghị đối với bị cáo theo quy định pháp luật.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hà Văn S đã khai nhận về nội dung vụ án cũng như cách thức thực hiện hành vi phạm tội của mình, những nội dung khai nhận này xét thấy phù hợp với lời khai trước đây cũng như các B bản sự việc, đơn trình báo của các bị hại, sơ đồ hiện trường, đặc điểm tài sản của bị cáo đã dịch chuyển là chiếc xe máy của bị hại, bị cáo lén lút và quan sát thấy tài sản là xe máy do bị hại không trông giữ cắm sẵn chiếc chìa khóa xe nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại và chiếm đoạt chiếc xe này, lời khai của bị cáo và bị hại về nơi để tài sản của bị hại, lời khai là trùng khớp về thời gian, địa điểm phạm tội, ăn mặc trang phục, B bản thực nghiệm điều tra, sơ đồ hiện trường.
Trong vụ án này, bị cáo Hà Văn S có 05 tiền án, nhân thân xấu, lại phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, sau khi xác minh tại 05 Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù xác định bị can Hà Văn S chưa thi hành án phí và các khoản bồi thường của 05 bản án. Do đó, đủ căn cứ để xác định bị can Hà Văn S chưa thi hành phần án phí của 05 bản án trên nên chưa được xóa án tích đối với 05 bản án trên. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu xâm hại đến quan hệ sở hữu được nhà nước bảo vệ, bị cáo đã phạm tội trộm cắp tài sản là chiếc xe máy, được kết luận định giá về giá trị tài sản: 6.250.000 đồng và bị truy tố xét xử, số tài sản là hàng hóa để trên xe máy qua hóa đơn chứng từ trị giá là: 1.570.000. Bị cáo đã trộm cắp số tài sản là hàng hóa trị giá: 7.820.000đ, còn 03 hộp thuốc mọc tóc, do hóa đơn chứng từ của 03 hộp thuốc làm mọc tóc hairgrow3 khối lượng 100g/01 hộp không rõ chủng loại, bị hại không cung cấp được cụ thể, bị hại không yêu cầu về số tiền hàng hóa này.
Mặt khác số tài sản là hàng hóa mà anh Tiến bị mất trong quá trình đi đưa hàng để trên xe máy, bị cáo tuy không lấy nhưng làm mất, anh Tiến cũng không có yêu cầu bội thường, nên không xét.
Như vậy bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút dịch chuyển tài sản khỏi chủ sở hữu, và đã có hành vi xâm hại đến quan hệ sở hữu được nhà nước bảo vệ, bị cáo đã phạm tội trộm cắp tài sản theo điểm g (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và ở tình tiết định khung hình phạt, hội đồng xét xử xem xét bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự, chấp nhận một phần quan điểm của trợ giúp viên pháp lý trình bày để giảm nhẹ mức án cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo là người dân tộc, không biết chữ.
Bị cáo là người không có công ăn việc làm ổn định nên không phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự trong vụ án này, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại nhận lại, không có yêu cầu gì.
+ Hình phạt bổ sung là phạt tiền: Không áp dụng đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định.
Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định Pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ : Điểm g Khoản 2 điều 173 BLHS, Điều 38, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ: Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 quy định mức án phí, lệ phí.
1/ Tuyên bố bị cáo: Hà Văn S phạm tội trộm cắp tài sản.
+ Xử phạt: Bị cáo Hà Văn S: 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày: 13/9/2024.
2/ Án phí và Quyền kháng cáo: Bị cáo Hà Văn S có quyền kháng cáo bản án, thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại có hạn 15 ngày kháng cáo, tính từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án niêm yết theo quy định. Bị cáo Hà Văn S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Đăng Vĩnh |
Bản án số 256/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG B về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 256/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG B
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn S
