|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 256/2024/DS-ST Ngày 30 – 9 – 2024 V/v tranh chấp HĐ vay tài sản |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Minh Hoàng
- Ông Đào Việt Khái
- Thư ký phiên toà: Ông Lữ Tấn Thiên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 417/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 8 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 310/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T; địa chỉ: Số 266-268, đường Nam Kỳ Khởi N, phường Võ Thị S, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Trần Đức T, chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T; Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; địa chỉ: Lầu 5, số 278, đường Nam Kỳ Khởi N, phường Võ Thị S, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền số: 2973/2023/UQ-TGĐ ngày 08/9/2023, xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí D, sinh ngày 26/10/1992; địa chỉ: khóm A, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 17/12/2019, anh Nguyễn Chí D đã ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T (gọi tắt là Ngân hàng) và được Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với tổng hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, anh D đã thực hiện giao dịch rút tiền từ thẻ tín dụng với tổng số tiền là 75.888.110 đồng. Trong quá trình kích hoạt sử dụng thẻ cho đến nay, anh D đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 44.895.641 đồng thì ngưng. Tuy đã được nhắc nhở nhiều lần, nhưng anh D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ngày 06/11/2021, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ của anh D và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 27/8/2024, anh D còn nợ Ngân hàng các khoản với số tiền là 128.974.794 đồng trong đó, nợ vốn là 57.805.278 đồng và nợ lãi 71.169.516 đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh D thanh toán một lần hết số tiền nợ trên.
Đối với anh Nguyễn Chí D (bị đơn), Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, riêng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã có lời khai và nộp đơn xin xét xử vắng mặt vào ngày 27/8/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng với nguyên đơn, bị đơn đang tạm trú tại địa chỉ D1, tầng 16 Block A, chưng cư Đại Thành, 221 – 223, Trịnh Đình Trọng, phường Phú Trung, Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Thanh Đạm B (nay là khóm A), thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Quá trình khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, qua xác minh của Công an phường Phú Trung xác định tại địa chỉ 221 – 223, Trịnh Đình Trọng, phường Phú Trung, Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh không có D1, tầng 16 Block A, chưng cư Đại Thành nên địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của bị đơn được xác định là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân giải quyết là đúng thẩm quyền.
Trong thời gian giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do, riêng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Tranh chấp giữa nguyên và bị đơn được xác định là tranh chấp hợp đồng vay, có quy định lãi suất cụ thể là hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng vào ngày 17/12/2019. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn không trả nợ gốc và lãi theo thoả thuận là đã vi phạm điều khoản cam kết nên được xem xét làm cơ sở để thanh lý hợp đồng.
Mặc dù, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, song vẫn vắng mặt không rõ lý do và trong thời gian giải quyết vụ án, bị đơn cũng không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện nhưng với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thể hiện việc bị đơn có vay, có nợ nguyên đơn đến nay chưa trả là sự thật nên không phải chứng minh và hiện còn nợ nguyên đơn các khoản tính đến ngày 27/8/2024 với tổng số tiền là 128.974.794 đồng (một trăm hai mươi tám triệu chín trăm bảy mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng). Do đó, cần buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ trên cho nguyên đơn cùng lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ là phù hợp.
[3] Về thời gian thanh toán, nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả một lần hết số tiền nợ nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng, việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị đơn phải chịu theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí đã nộp được trả lại toàn bộ cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật dân;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 100 của Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào các Điều 147, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T.
- Buộc anh Nguyễn Chí D thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T các khoản tính đến ngày 27/8/2024 với tổng số tiền là 128.974.794 đồng (một trăm hai mươi tám triệu chín trăm bảy mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng) trong đó, nợ vốn là 57.805.278 đồng và nợ lãi là 71.169.516 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày 27/8/2024, anh D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ vốn chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vốn này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà anh D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Anh Nguyễn Chí D phải nộp số tiền là 6.448.739 đồng (sáu triệu bốn trăm bốn mươi tám nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng - chưa nộp).
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T không phải nộp. Ngày 03/01/2024, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 2.594.874 đồng (hai triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn tám trăm bảy mươi bốn đồng) tại Chi Cục thi hành án dân sự Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo biên lai thu số 0007357 được trả lại toàn bộ cho Ngân hàng.
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Chí D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lâm Hoài Ân |
4
Bản án số 256/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hđ vay tài sản
- Số bản án: 256/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 17/12/2019, anh Nguyễn Chí D đã ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T (gọi tắt là Ngân hàng) và được Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với tổng hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, anh D2 đã thực hiện giao dịch rút tiền từ thẻ tín dụng với tổng số tiền là 75.888.110 đồng. Trong quá trình kích hoạt sử dụng thẻ cho đến nay, anh D đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 44.895.641 đồng thì ngưng. Tuy đã được nhắc nhở nhiều lần, nhưng anh D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ngày 06/11/2021, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ của anh D và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 27/8/2024, anh D còn nợ Ngân hàng các khoản với số tiền là 128.974.794 đồng trong đó, nợ vốn là 57.805.278 đồng và nợ lãi 71.169.516 đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh D thanh toán một lần hết số tiền nợ trên.
