Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 256/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 19/8/2023

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên.

Dương Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 152/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 203/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Phương T, sinh năm 1995.

    ĐKHKTT: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.

    Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  2. Bị đơn: Anh Lê Huy N, sinh năm 1991.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương. Hiện đang cư trú tại: Nhật Bản.

(Chị T, anh N vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Phạm Thị Phương T trình bày: Năm 2013 chị đi du học tại Nhật Bản, năm 2015 anh N cũng sang Nhật Bản du học. Anh chị quen biết và được tự do tìm hiểu, tự nguyện nộp hồ sơ đăng ký kết hôn đến T1 tại F Nhật Bản và đã được T1 tại F Nhật Bản cấp giấy chứng nhận kết hôn số 12-2017 ngày 18/01/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại Nhật Bản, đến tháng 11/2017 chị về nước, tháng 01/2018 anh N cũng về nước để tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn anh N trở lại Nhật Bản sinh sống và học tập đến nay chưa về nước. Chị ở nhà với bố mẹ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh N ở giữa không hòa giải, khuyên bảo mà bênh bố mẹ đẻ nên nhiều lần gọi điện về chửi bới xúc phạm chị. Chị đi làm nhưng bố mẹ chồng lại cho rằng chị chơi bời, trai gái và nói lại với anh N, dẫn đến anh N ghen tuông, kiêm cớ gây sự với chị nên mỗi khi anh liên lạc về nhà vợ chồng lại xảy ra cãi chửi nhau. Tháng 9/2021, chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng không liên lạc và không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Huy N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Phạm Hải Đ, sinh ngày 29/5/2018, hiện con đang ở với chị. Chị đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi và tự nguyện không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị T không cung cấp được địa chỉ của anh N nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh N. Ông Lê Thanh N1 (là bố đẻ anh N) trình bày: Ông không biết địa chỉ cụ thể của anh N ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên anh N thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh N biết. Qua liên lạc anh N trình bày quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T có đơn xin ly hôn, anh hoàn toàn nhất trí. Anh xác định vợ chồng có 01 con chung như chị T trình bày là đúng, anh nhất trí để chị T được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi, anh không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tòa án xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị T, anh N sinh sống thể hiện: Sau khi kết hôn tại Nhật Bản, anh chị về địa phương tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Sau đó anh N quay trở lại Nhật Bản làm việc, chị T cũng đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống xa cách mỗi người sống một nơi, không có sự chia sẻ, gắn bó. Nay chị T có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Phương T được ly hôn anh Lê Huy N. Về con chung: Giao con chung Lê Phạm Hải Đ cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị Phương T hiện đang sinh sống ở Việt Nam; bị đơn anh Lê Huy N có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương, hiện anh N đang lao động tại Nhật Bản. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh N. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh N cung cấp địa chỉ nhưng gia đình không cung cấp được. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông N1 là bố đẻ anh N để thông báo về việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị T và anh N đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Ông N1 vẫn liên lạc với anh N và đã thông báo việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị T và anh N. Tại phiên tòa, chị T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt và có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Phương T và anh Lê Huy N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại T1 tại F Nhật Bản ngày 18/01/2017 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đến tháng 11/2017 chị T về nước, tháng 01/2018 anh N về nước để tổ chức lễ cưới. Sau khi tổ chức lễ cưới anh N quay trở lại Nhật Bản sinh sống và học tập, chị T sống cùng với bố mẹ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, anh N không hòa giải lại bênh bố mẹ, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Tháng 9/2021 chị T đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm và đã sống ly thân từ tháng 01/2018 cho đến nay. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N. Thông qua gia đình anh N cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

[2.2] Về quan hệ con chung: Chị Phạm Thị Phương T và anh Lê Huy N có 01 con chung là Lê Phạm Hải Đ, sinh ngày 29/5/2018, hiện con đang ở với chị. Chị T và anh N cùng thống nhất chị T có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi), chị T tự nguyện không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, thỏa thuận của các đương sự phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Do vậy, cần chấp nhận thỏa thuận của anh chị giao con chung Lê Phạm Hải Đ cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi, anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh N xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị Phạm Thị Phương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51; 56; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Phương T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Phương T ly hôn anh Lê Huy N.
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Phạm Thị Phương T được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Phạm Hải Đ, sinh ngày 29/5/2018 cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T tạm thời không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị Phương T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0004853 ngày 14/4/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Phương T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Anh Lê Huy N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại
  • Fukuoka Nhật Bản;
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 256/2023/HNGĐ-ST ngày 19/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 256/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị Phương T xin ly hôn anh Lê Huy N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger