Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 256/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-9-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê;

Bà Nguyễn Thị Phú.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 169/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Địch Thị H, sinh năm 1989 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: Bản Nghè, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

    Địa chỉ: 1 S, M, thành phố U, tỉnh Nagasaki, Nhật Bản.

    - Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng:

    1. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1995; Địa chỉ: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
    2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ dân phố số F, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

    (Văn bản ủy quyền ngày 17/5/2024, không triệu tập anh M, anh T)

  2. Bị đơn: Anh Trần Văn S, sinh năm 1988 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Bản N, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai đề ngày 17/5/2024 (có xác nhận của Đại sứ quán nước C tại Nhật Bản), nguyên đơn chị Địch Thị H trình bầy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 11/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng trong hôn nhân, nguyên nhân chủ yếu là do khác biệt về tính cách, không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống và không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Hai bên gia đình đã tiến hành động viên, hòa giải nhưng đều không đạt kết quả. Hiện nay chị đang làm việc tại Nhật Bản, A thì ở Việt Nam, do có mâu thuẫn từ trước và phải sống xa cách nhau dẫn đến mâu thuẫn vốn dĩ đã không tốt nay càng thêm trầm trọng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Văn S để chị sớm ổn định cuộc sống của bản thân.

Về con chung: Chị và anh S có 03 con chung là cháu Trần Thị Như Q, sinh ngày 18/3/2010, Trần Thị Phương T1, sinh ngày 28/01/2012, Trần Thị Kim L, sinh ngày 13/8/2019. Hiện con chung đang sống cùng với anh S. Do chị đang lao động tại nước ngoài nên chị đề nghị giao con chung cho anh S nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh S sẽ tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng cho các con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, công nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị H trình bày: Do chị đang lao động tại Nhật Bản, chị không thể đến Tòa án để tham gia tố tụng được nên chị đề nghị vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nói trên. Chị ủy quyền cho anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1995; Địa chỉ: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định và anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ dân phố số F, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Giao nhận văn bản tố tụng với Tòa án.

Bị đơn anh Trần Văn S trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 11/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn anh và chị H chung sống với nhau hòa thuận đến năm 2023 chị H đi lao động tại Nhật Bản. Trong thời gian đầu anh và chị H vẫn thường xuyên liên lạc, nói chuyện với nhau đến tháng 01/2024 vợ chồng xảy ra cãi vã từ đó vợ chồng ít nói chuyện với nhau, các cuộc điện thoại đều nhằm mục đích trao đổi về việc học của con. Từ tháng 6 năm 2024 anh và chị H không còn liên lạc với nhau nữa. Trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn anh nhiều lần gọi điện cho chị H nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H xin ly hôn anh không đồng ý vì các con anh còn nhỏ, anh có nguyện vọng đoàn tụ với chị H để cùng nuôi dạy các con.

Về con chung: Anh và chị H có 03 con chung là cháu Trần Thị Như Q, sinh ngày 18/3/2010, Trần Thị Phương T1, sinh ngày 28/01/2012, Trần Thị Kim L, sinh ngày 13/8/2019. Hiện con chung đang sống cùng với anh. Trường hợp Tòa án giải quyết cho chị H và anh ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi cháu Q, cháu T1 và cháu L, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án tiến hành lấy lời khai cháu Trần Thị Như Q và cháu Trần Thị Phương T1 để yêu cầu cháu Q, cháu T1 trình bày về nguyện vọng nhưng cháu Q và cháu T1 đều không trình bày nguyện vọng của mình.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Địch Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Trần Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Địch Thị H, biên bản lấy lời khai của anh Trần Văn S, cháu Trần Thị Như Q, cháu Trần Thị Phương T1, biên bản xác minh với bà Lê Thị L1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Địch Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Trần Văn S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.

Về hôn nhân: Chị Địch Thị H được ly hôn anh Trần Văn S.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Như Q, sinh ngày 18/3/2010, Trần Thị Phương T1, sinh ngày 28/01/2012, Trần Thị Kim L, sinh ngày 13/8/2019 cho anh Trần Văn S nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị Địch Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Địch Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Trần Văn S và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án có nguyên đơn chị H hiện đang lao động tại Nhật Bản, bị đơn anh S có địa chỉ nơi thường trú tại bản Nghè, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về việc vắng mặt của đương sự:

Đối với nguyên đơn chị Địch Thị H vắng mặt và xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Địch Thị H.

Đối với bị đơn anh Trần Văn S vắng mặt, anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Trần Văn S.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Địch Thị H và anh Trần Văn S kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 11/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh S phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Trần Văn S.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Địch Thị H đối với anh Trần Văn S. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H và anh S chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã không thể hàn gắn được, đến nay vợ chồng anh chị không còn liên lạc với nhau nữa. Ngoài ra, bà L1 là mẹ chị H cung cấp chị H và anh S mâu thuẫn bà không nắm được nhưng bà đã gọi điện cho chị H nhiều lần để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm cho vợ chồng chị H nhưng không đạt kết quả. Anh S trình bầy tại biên bản ghi lời khai anh xác định từ tháng 6 năm 2024 anh và chị H không còn liên lạc với nhau nữa. Trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn anh nhiều lần gọi điện cho chị H nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị H, anh S không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị Địch Thị H được ly hôn anh Trần Văn S như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[4]. Về nuôi con chung: Chị H và anh S có 03 con chung là cháu Trần Thị Như Q, sinh ngày 18/3/2010, Trần Thị Phương T1, sinh ngày 28/01/2012, Trần Thị Kim L, sinh ngày 13/8/2019. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng giao cháu Q, cháu T1 và cháu L cho anh S nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh S có nguyện vọng nuôi ba con chung là cháu Q, cháu T1 và cháu L nếu vợ chồng phải ly hôn, cháu Q và cháu T1 trên 7 tuổi Tòa án có ghi lời khai về nguyện vọng của các cháu nhưng hai cháu không thể hiện nguyện vọng.

Xét yêu cầu giao ba con chung cho anh S nuôi dưỡng của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Chị H hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài nên không thể trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Cháu Q, cháu T1, cháu L từ khi chị H đi lao động ở nước ngoài được anh S chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Anh S có nguyện vọng nuôi dưỡng các con chung. Để đảm bảo cho con chung phát triển bình thường, tránh xáo trộn về cuộc sống, môi trường học tập của con chung. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị H giao cháu Q, cháu T1 và cháu L cho anh S là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật sau khi ly hôn là có căn cứ và phù hợp điều kiện thực tế cũng như đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

Sau khi ly hôn chị H không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp chị H về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về tài sản, công nợ chung: Chị H, anh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7]. Về án phí: Chị Địch Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[8]. Về quyền kháng cáo:

Chị Địch Thị H đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Trần Văn S đang ở trong nước vắng mặt tại phiên, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Địch Thị H.

  1. Về hôn nhân: Chị Địch Thị H được ly hôn anh Trần Văn S.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Như Q, sinh ngày 18/3/2010, cháu Trần Thị Phương T1, sinh ngày 28/01/2012, cháu Trần Thị Kim L, sinh ngày 13/8/2019 cho anh Trần Văn S nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn. Chị Địch Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Địch Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001317 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Địch Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo bản án:

    Chị Địch Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Anh Trần Văn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 256/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 256/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị H và anh S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger