Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 256/2024/DSPT

Ngày: 11 - 6 - 2024

V/v “tranh chấp chia di sản thừa kế"

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Hải;

Bà Nguyễn Thị Trang Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 588/2023/TLPT- DS ngày 20 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp di sản thừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 261/2023/DS – ST ngày 30 tháng 09 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều bị nguyên đơn kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 95/2024/QĐPT-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 3 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 77/2024/TB-TA ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà La Thị Cẩm V, sinh năm 1959; địa chỉ: 7 đường C, phường A, quận N, Thành phố Cần Thơ. (có mặt)

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí D, sinh năm 1988; địa chỉ: Số H đường F tổ C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  2. Bị đơn: Bà La Kim Q, sinh năm 1957; địa chỉ: 5 Q, phường A, quận N, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

    Đại diện hợp pháp của bị đơn ông Phạm Hồng Q1, sinh năm 1958; địa chỉ: 5 Q, phường A, quận N, Thành phố Cần Thơ. (có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà La Kim Q là ông Hồ Tấn D1, sinh năm 1985; địa chỉ: A N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông La Thanh H, sinh năm 1979; (vắng mặt)

      Địa chỉ: 50/16/5 Q, phường A, quận N, Thành phố Cần Thơ.

    Trợ giúp viên pháp lý Đinh Ánh Hồng V1 – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông La Thanh H. (có mặt)

    1. Ông Phạm Duy M, sinh năm 1982; địa chỉ: 5 Q, phường A, quận N, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
    2. Bà Phạm Kiều Mộng D2, sinh năm 1989; địa chỉ: 5 Q, phường A, quận N, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
    3. Ông Nguyễn Phúc H1, sinh năm 1979; địa chỉ: 1 N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
  4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Chí D, ông La Thanh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn bà La Thị Cẩm V:

Cha và mẹ của bà là ông La Thế S và bà Nguyễn Thị H2 có tạo lập được tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là nhà và đất tại địa chỉ số E Q, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ. Hai ông bà được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 11215/CN.UB94 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 19/9/1994. Ông S và bà H2 có 4 người con là bà La Thị N, La Kim Q, La Thị Cẩm V, La Thị H3. Bà N chết năm 1983, bà N có 01 người con là ông La Thanh H. Theo Giấy chứng tử số 19/2005 ngày 27/6/2005 thì ông S chết ngày 10/9/2000. Ngày 10/01/2006 bà H2 làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản mà ông S để lại là nhà và đất theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 11215/CN.UB94 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 19/9/1994, bà, bà Q và người thừa kế thế vị của bà N là ông H, đều có văn bản nhường quyền hưởng di sản của ông S lại cho bà H2. Bà H2 đã được Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 ngày 28/3/2006 đối với thửa đất số 251 tờ bản đồ số 9 diện tích 73.90m².

Ngày 19/4/2006 bà H2 ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 90 quyển số 1/2006/TP/CC-SCC/HĐGD tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 cho bà La Thị H3, ngày 26/5/2006 bà H3 đã cập nhật chỉnh lý sang tên của bà La Thị H3. Do bà H3 không có chồng con nên bà H2 tặng cho toàn bộ tài sản để bà H3 chăm sóc cho bà H2 lúc tuổi già, đối với căn nhà trên đất do ông S và bà H2 xây dựng, bà H3 đi làm việc có tiền cũng góp phần tu sửa dần dần. Vợ chồng bà La Kim Q, ông Phạm Hồng Q1 làm ăn thất bại không có chỗ ở, nên bà H2 mới đồng ý cho về sống chung trên nhà và đất cùng bà H2 và bà H3. Ông Q1, bà Kim Q không có công sức tôn tạo gì đối với căn nhà trên đất.

Bà H3 bị bệnh mất vào ngày 27/02/2010 theo giấy chứng tử số 22/2010 ngày 15/3/2010 bà H3 không có chồng con, nên mẹ bà là bà Nguyễn Thị H2 được xác định là hàng thừa kế thứ nhất của bà H3. Theo Giấy chứng tử số 114 ngày 07/12/2013 bà H2 mất, do đó bà yêu cầu tòa án phân chia di sản thừa kế của bà H2 là nhà và đất tọa lạc địa chỉ số E Q, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 ngày 28/3/2006 đối thửa đất số 251 tờ bản đồ số 9 diện tích 73.90m² cho bà và bà La Kim Q, ông La Thanh H là người thừa kế thế vị của bà La Thị N. Bà yêu cầu được nhận giá trị theo giá thị trường tại Chứng thư số CTSGCT31222 ngày 22 ngày 02 năm 2023, giá trị nhà và đất là 2.810.000.000 đồng, bà yêu cầu được hưởng 1/3 giá trị tài sản.

Đối với di chúc ngày 16/12/2009 bà H3 để lại toàn bộ tài sản gồm căn nhà và đất của thửa đất 251 cho bà La Kim Q, bà không đồng ý vì bà H3 không có quyền định đoạt tài sản trên. Bà H3 chết năm 2010 không có chồng con, khi đó mẹ bà là bà H2 còn sống, thì mẹ bà là hàng thừa kế thứ nhất phải được hưởng toàn bộ di sản. Bà Q là người nhận di sản mà cùng ký tên vào di chúc với bà H3 là không đúng, ngoài ra trong di chúc không ghi rõ về nghĩa vụ thanh toán số nợ 300.000.000 đồng cho ông Nguyễn Phúc H1 đối với người được hưởng di chúc. Người làm chứng trong trong di chúc ông Nguyễn Tấn Đ trình bày là bà H3 đem di chúc qua cho ông ký, do thấy bà Nguyễn Thị Thanh L đã ký, nên bà H3 nhờ thì ông ký vào mà không đọc nội dung, không biết rõ việc làm chứng. Bà L trình bày bà H3 đem tờ di chúc đã soạn thảo sẵn nhờ bà L ký. Do đó bà yêu cầu Tòa án tuyên hủy Tờ di chúc do bà La Thị H3 lập ngày 16/12/2009 do có nhiều điểm trái với quy định của pháp luật và vi phạm về mặt đạo đức, có dấu hiệu không thể hiện ý chí của người lập di chúc. Nguồn gốc tài sản trước đây là của cha mẹ bà tạo lập, sau này do mẹ bà bệnh thì được bà La Thị H3 chăm sóc, nên mẹ bà quyết định để lại cho bà La Thị H3. Tuy nhiên, bà H3 đã mất trước khi mẹ bà mất. Do đó, di chúc của bà H3 để lại tài sản cho bà La Kim Q là bà không thống nhất. Hơn nữa, di chúc này hoàn toàn không đúng với quy định của pháp luật, không được Cơ quan có thẩm quyền chứng thực.

Bà H3 bị bệnh thì vẫn còn tỉnh táo và sinh hoạt bình thường, đến khi hai, ba tháng gần chết thì bà H3 mới nằm một chỗ. Từ thời điểm bà H3 bệnh đến khi mất, đều do một mình bà chăm sóc và không có ai khác giúp đỡ, do đó việc bà H3 tự đứng ra lập di chúc là không có cơ sở. Đối với trường hợp bà H3 vay tiền của ông Nguyễn Phúc H1, bà hoàn toàn không biết. Do đó bà không đồng ý trả nợ cho ông Phúc H1 trong trường hợp được hưởng di sản.

Đại diện ủy quyền của bà La Kim Q, ông Phạm Hồng Q1 trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của bà V về nguồn gốc tài sản. Phần nhà trên thửa đất số 251 hai vợ chồng ông cùng các con sửa chữa tu bổ đến ba lần. Bà Q1 chăm sóc bà H3 khi bà H3 bệnh, bà Q1 là cũng là người chăm sóc lo lắng cho bà H2 và ông Thanh H, do ông Thanh H bệnh nặng nhiều năm, nên bà H3 mới để lại toàn bộ di sản cho bà Q1, để bà Q1 phụng dưỡng chăm sóc bà H2 khi bà H3 qua đời. Ông Thanh H cũng do vợ chồng ông nuôi dưỡng từ nhỏ đến lớn, bà V không chăm sóc lo lắng cho bà H3, bà H2 và ông Thanh H. Ngày 16/12/2009 bà H3 đã lập tờ di chúc để lại cho bà Q1 toàn bộ nhà đất tại địa chỉ số E Q, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày cho bà Nguyễn Thị H2, ngày 26/5/2006 đã cập nhật chỉnh lý sang tên của bà La Thị H3.

Bà Q1 có đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận tờ di chúc, do bà H3 lập ngày 16/12/2009 là di chúc hợp pháp và yêu cầu được nhận toàn bộ di sản của bà H3 để lại theo di chúc. Với lý do khi bà H3 lập di chúc, bà H3 bệnh nặng nhưng tinh thần vẫn minh mẫn tỉnh táo, chính bà H3 là người trực tiếp đem tờ di chúc sang nhà bà L và ông Đ, nhờ hai người ký tên vào tờ di chúc làm chứng cho ý chí của bà H3. Di chúc phù hợp với các quy định pháp luật. Thời điểm lập di chúc, bà H3 đem bản chính của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 ký hợp đồng thế chấp cho ông Nguyễn Phúc H1 vay 300.000.000 đồng để lấy tiền về trị bệnh cho bà H3, nên không thể thực hiện việc công chứng, chứng thực di chúc. Trường hợp bà Q1 được hưởng di sản thừa kế của bà H3, thì bà Q1 sẽ trả số tiền nợ vay 300.000.000 đồng này cho ông Phúc H1, đồng thời bà Q1 vẫn đồng ý cho ông Thanh H sinh sống trong căn nhà trên thửa đất số 251 và sẽ chăm sóc và lo lắng ông Thanh H đến khi ông H mất đi, do hiện nay ông H đang bị suy thận giai đoạn cuối.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông La Thanh H trình bày: Ông là con duy nhất của bà La Thị N là chị của bà H3, con của bà H2, bà N1 mất năm 1983. Ông thừa nhận nguồn gốc tài sản như lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn. Tài sản này khi bà H3 mất đi thì thuộc quyền thừa kế của bà H2, khi bà H2 chết thì thuộc quyền thừa kế của các con bà H2 là bà V, bà N, bà Q1. Ông là thừa kế thế vị của bà N, ông yêu cầu chia di sản cho ông và bà V, bà Q1, mỗi người được hưởng một phần ba di sản. Ông đề nghị nhận một phần giá trị tài sản theo chứng thư định giá CTSGCT31222. Ông yêu cầu Tòa án hủy di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà H3 do không đúng quy định pháp luật, do đây là di sản của bà H2, bà H3 không được quyền định đoạt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hồng Q1 trình bày: Ông và vợ ông bà La Kim Q đã chăm sóc lo lắng cho bà H3 và H2 khi ốm đau bệnh tật, bà V không có chăm lo cho bà H3, bà H2, căn nhà là do ông bà và các con tu sửa nhiều lần. Di chúc của bà H3 là hợp pháp đề nghị Tòa án công nhận di chúc. Ông cũng thống nhất với ý kiến của bà Q, đồng ý cho ông Thanh H sinh sống trong nhà trên thửa đất 251 cho đến khi ông Thanh H mất.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ông Phạm Duy M có văn bản trình bày: Ông có trả nợ thay bà H3 và ông Thanh H, trả cho ông Phúc H1 mỗi ngày 300.000 đồng, trả hơn một năm tuy nhiên không có chứng cứ cho việc trả nợ, ông yêu cầu ông Thanh H trả tiền cho ông sau khi vụ án giải quyết xong, tuy nhiên hiện nay ông không còn giữ yêu cầu này. Thống nhất với ý kiến của bà La Kim Q và ông Phạm Hồng Q1, không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Kiều Mộng D2 có văn bản trình bày: Bà và các anh chị em trong nhà cũng có đóng góp tiền sữa chữa căn nhà trên thửa đất 251, tuy nhiên bà không có yêu cầu gì. Thống nhất với ý kiến của bà La Kim Q và ông Phạm Hồng Q1, không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phúc H1 có văn bản trình bày: Trước khi mất, bà La Thị H3 có ký hợp đồng thế chấp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 ngày 28/3/2006 đối thửa đất số 251 tờ bản đồ số 9 diện tích 73.90m² cho ông, để vay số tiền 300.000.000 đồng, hiện nay chưa ai thanh toán nợ. Ông M trình bày đã trả tiền cho ông mỗi ngày 300.000 đồng là không có. Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án mà chỉ đề nghị tòa án ghi nhận ý kiến là ai hưởng di sản của bà H3 thì phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà H3, sau khi thanh toán đầy đủ nợ, thì ông sẽ trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đã thanh toán nợ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 261/2023/DS – ST ngày 30 tháng 09 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà La Thị Cẩm V về việc:
    • - Chia di sản thừa kế theo pháp luật Thửa đất số 251 có gắn liền với căn nhà, tờ bản đồ số 09, diện tích 73,90m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 28/3/2006 cho bà Nguyễn Thị H2, bà H2 đã tặng cho và cập nhật chỉnh lý chủ sở hữu là bà La Thị H3 ngày 26/5/2006.
    • Không chấp nhận yêu cầu không công nhận di chúc ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà La Kim Q về việc công nhận di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 là di chúc hợp pháp.

    Bà La Kim Q được hưởng toàn bộ di sản theo di chúc ngày 16/12/2009 là Thửa đất số 251 có gắn liền với căn nhà, tờ bản đồ số 09, diện tích 73,90m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 28/3/2006 cho bà Nguyễn Thị H2, bà H2 đã tặng cho và cập nhật chỉnh lý chủ sở hữu là bà La Thị H3 ngày 26/5/2006.

    Bà La Kim Q có quyền tự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để lập thủ tục đứng tên quyền sở hữu, sử dụng tài sản hưởng thừa kế nêu trên.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà La Kim Q đồng ý cho ông La Thanh H được sinh sống trong căn nhà trên thửa đất số 251 tờ bản đồ số 09, diện tích 73,90m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 28/3/2006 cho bà Nguyễn Thị H2, bà H2 đã tặng cho và cập nhật chỉnh lý chủ sở hữu là bà La Thị H3 ngày 26/5/2006, cho đến khi ông La Thanh H mất.

  3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông La Thanh H về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật thửa đất số 251 có gắn liền với căn nhà, tờ bản đồ số 09, diện tích 73,90m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 28/3/2006 cho bà Nguyễn Thị H2, bà H2 đã tặng cho và cập nhật chỉnh lý chủ sở hữu là bà La Thị H3 ngày 26/5/2006.

Ngoài ra Bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo; quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, đại diện ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ mới.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Di chúc ngày 16/12/2009 không đúng trình tự lập di chúc, cụ thể 02 người làm chứng không trực tiếp thấy bà H3 lập và ký tên vào bản di chúc nên việc làm chứng này chưa đảm bảo về mặt hình thức của di chúc theo quy định tại Điều 656 Bộ luật Dân sự năm 2005 nên không thể xem là di chúc hợp pháp.

Ngoài ra, về mặt nội dung di chúc cũng chỉ định đoạt phần căn nhà, phần quyền sử dụng đất chưa định đoạt. Do bản di chúc không hợp pháp nên di sản của bà H3 phải được chia theo pháp luật. Khi bà H3 mất bà H2 còn sống nên bà H2 là người thừa kế theo pháp luật duy nhất của bà H3 nên bà H2 được quyền sở hữu di sản của bà H3 là căn nhà và quyền sử dụng đất tại địa chỉ số E đường Q, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Nay bà H2 đã mất nên nguyên đơn đề nghị Tòa án chia di sản của bà H2 là quyền sử dụng đất tại địa chỉ trên theo pháp luật thành 03 kỷ phần cho bà La Thị Cẩm V, bà La Kim Q, ông La Thanh H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H trình bày: Có cùng quan điểm với đại diện hợp pháp của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố, kháng cáo của ông H, tuyên tờ di chúc vô hiệu và chia di sản của bà H2 là quyền sử dụng đất tại địa chỉ trên theo pháp luật thành 03 phần cho bà V, bà Q và ông H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu phản tố, kháng cáo của ông La Thanh H, giữ y bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:

Tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo: nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo trong hạn luật định nên hợp lệ về mặt hình thức.

Phần di sản đang tranh chấp là nhà và đất tại địa chỉ số E Q, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ có nguồn gốc là của ông La Thế S, bà Nguyễn Thị H2. Ông S, bà H2 được cấp GCNQSH nhà số 11215/CN.UB94 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 19/9/1994. Ông bà có 04 người con, gồm La Thị N (đã mất, có người thừa kế là ông La Thanh H), La Kim Q, La Thị Cẩm V, La Thị H3.

Ông S mất năm 2000. Ngày 10/01/2006 những người thừa kế của ông S làm thủ tục khai nhận thừa kế. Bà V, bà Q và người thừa kế của bà N (ông H) nhường quyền hưởng di sản thừa kế cho bà H2. Bà H2 được cấp GCNQSDĐ số H00302 ngày 28/3/2006 đối với thửa đất số 251, tờ bản đồ số 9, diện tích 73.90m².

Ngày 19/4/2006 bà H2 ký hợp đồng tặng cho toàn bộ nhà và đất trên cho con là bà La Thị H3, ngày 26/5/2006 bà H3 được cập nhật, chỉnh lý sang tên.

Ngày 27/02/2010 bà H3 mất. Đến ngày 07/12/2013 bà H2 mất. Trước đó, 16/12/2009 bà H3 đã di chúc để lại nhà và đất cho bà La Kim Q. Nguyên đơn cho rằng, việc bà H2 di chúc toàn bộ tài sản cho bà Q là không đúng quy định pháp luật. Do bà H3 mất trước bà H2 và không có chồng con, nên phần di sản là nhà và đất tại địa chỉ số E Q, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ sẽ do bà H2 – hàng thừa kế thứ nhất của bà H3 thụ hưởng, đến năm 2013 bà H2 mất, không để lại di chúc, thì phần di sản là nhà và đất trên sẽ được chia đều cho hàng thừa kế của bà H2.

Nhận thấy:

Các đương sự đều thừa nhận thống nhất, phần nhà và đất tại địa chỉ số E Q, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ bà H3 được bà H2 tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp(có sự đồng ý của của các đồng thừa kế khác) và bà H3 đã được chỉnh lý sang tên La Thị H3 ngày 26/5/2006. Ngày 16/12/2009, bà H3 lập di chúc để lại toàn bộ nhà và đất trên cho bà La Kim Q. Tại thời điểm tặng cho, bà H3 là chủ sở hữu hợp pháp, nên có toàn quyền định đoạt đối với tài sản, cho thấy việc bà H3 lập di chúc, định đoạt tài sản nhà và đất cho bà Q là hoàn toàn phù hợp, không trái quy định pháp luật.

Về tính hợp pháp của di chúc: di chúc do bà La Thị H3 lập ngày 16/12/2009 có chữ ký của hai người làm chứng là bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Tấn Đ là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2005. Cả hai nhân chứng đều thừa nhận, thời điểm lập di chúc bà H3 vẫn còn khỏe mạnh và bà H3 là người trực tiếp mang di chúc nhờ bà L, ông Đ ký tên người làm chứng vào di chúc. Cho thấy, ý chí của H3 là mong muốn để lại tài sản cho bà Q. Do đó, di chúc do bà La Thị H3 lập ngày 16/12/2009 đủ điều kiện được công nhận theo quy định tại Điều 652, 653, 654, 646 Bộ luật dân sự năm 2005.

Về nội dung di chúc thể hiện: bà La Thị H3 di chúc lại cho bà La Kim Q, “Về tài sản: Căn nhà số E, Q, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ“. Căn cứ vào nội dung di chúc trên, thì bà La Kim Q chỉ được thừa hưởng toàn bộ căn nhà đã được định đoạt trong di chúc. Phần không được định đoạt trong di chúc là quyền sử dụng đất tại thửa 251, tờ bản đồ số 9, diện tích 73.90m² sẽ được phân chia cho những hàng thừa kế của H2 theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, phần di sản hiện tại do bị đơn bà La Kim Q quản lý, sử dụng. Đồng thời, trên phần đất tại thửa 251 có tồn tại căn nhà thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Q (được thừa hưởng theo di chúc), nên cần thiết ổn định nhà và đất trên cho bị đơn bà La Kim Q. Bà Q có trách nhiệm thối ½ giá trị đất cho người thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà H3 còn lại là nguyên đơn bà La Thị Cẩm V. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận toàn bộ khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn - công nhận toàn bộ di chúc ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 là chưa đủ cơ sở.

Đối với kháng cáo của ông La Thanh H, nhận thấy: Ông H là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà La Thị N, không thuộc trường hợp hưởng di sản của bà H3 theo quy định tại Điều 676, 677 Bộ luật dân sự năm 2005, nên kháng cáo của ông H là không có cơ sở chấp nhận.

Từ các phân tích trên cho thấy, kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận một phần.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm số 261/2023/DS-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo hướng đã phân tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Ông La Thanh H có đơn kháng cáo, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử văng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông H.
  2. Theo đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ông La Thanh H thì bà V và ông H có cùng nội dung yêu cầu kháng cáo như nhau. Do đó, khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bà V cùng đồng thời là xem xét yêu cầu kháng cáo của ông H.
  3. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của đại diện ủy quyền nguyên đơn xác định, nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ thể: Yêu cầu tuyên bố tờ di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 vô hiệu đồng thời yêu cầu chia di sản của bà H2 để lại là quyền sử dụng đất tại thửa số 251, tờ bản đồ số 09 và căn nhà gắn liền với đất tại địa chỉ số E đường Q, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ theo pháp luật thành 03 kỷ phần thừa kế như nhau cho bà La Thị Cẩm V, ông La Thanh H và bà La Kim Q. Do đó, vấn đề cần xem xét tại phiên tòa là tờ di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 có hợp pháp hay không.
  4. Hội đồng xét xử xét thấy, tờ di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 được lập thành văn bản có người làm chứng nên về hình thức đây là loại di chúc bằng văn bản có người làm chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 650 của bộ luật Dân sự năm 2005.
  5. Xét về nội dung, di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 có đầy đủ các nội dung như ngày, tháng, năm lập di chúc, người để lại di chúc, người được hưởng di sản, di sản và nơi có di sản. Mặt khác, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 28//3/2006 cho bà Nguyễn Thị H2, cập nhật chỉnh lý sang tên chủ sở hữu cho bà La Thị H3 ngày 26/5/2006 thì tại thời điểm lập di chúc di sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà H3. Ngoài ra, giữa bà H3 với bà Q cũng như bà H2 đều có mối quan hệ ruột thịt, bà H3 lại không có chồng con nên việc bà H3 để lại di sản cho bà Q là không trái pháp luật cũng như đạo đức xã hội. Do đó di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 đảm bảo về mặt nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 653 của Bộ luật dân sự năm 2005.
  6. Về người làm chứng cho việc lập di chúc: Theo quy định tại Điều 654 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì “mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây: Người được thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ liên quan tới nội dung di chúc; Người chưa đủ 18 tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự”. Bản di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 có người làm chứng là ông Nguyễn Tấn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh L. Cả 02 người làm chứng này đều là hàng xóm, không có quyền hay nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc. Mặt dù, ông Đ và bà L không thấy bà H3 lập di chúc nhưng ông bà thừa nhận chính bà H3 là người trực tiếp mang bản di chúc đưa ông bà ký. Đều này thể hiện ông Đ và bà L có biết việc bà H3 có để lại di chúc để định đoạt phần tài sản của mình sau khi mất. Do đó, việc làm chứng của ông Đ, bà L đảm bảo đúng quy định theo Điều 654 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
  7. Theo lời trình bày của ông Đ và bà L thì bà H3 tự mình mang bản di chúc sang nhờ ông, bà ký làm chứng điều này cho thấy, tại thời điểm lập di chúc bà H3 đảm bảo về mặt sức khỏe cũng như ý thức để thực hiện quyền tự định đoạt tài sản của mình. Ngoài ra, các chứng cứ cũng như trình bày của các đương sự trong vụ án cũng chưa thể hiện tại thời điểm lập di chúc bà H3 bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép trong việc lập di chúc.
  8. Từ những nhận định trên, cho thấy di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 đảm bảo đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 652 của Bộ luật dân sự năm 2005 nên là di chúc hợp pháp. Do đó, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và ông La Thanh H về việc yêu cầu tuyên di chúc lập ngày 16/12/2009 vô hiệu là không có cơ sở chấp nhận.
  9. Theo nội dung di chúc, bà H3 để lại căn nhà số E Q, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Đại diện của nguyên đơn cho rằng, nội dung của bản di chúc chỉ định đoạt phần căn nhà còn quyền sử dụng đất thì chưa định đoạt. Hội đồng xét xử nhận thấy, phần diện tích căn nhà và diện tích quyền sử dụng đất tương ứng với nhau và là một thể thống nhất. Điều này thể hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 28/03/2006 cho bà Nguyễn Thị H2, chỉnh lý sang tên bà La Thị H3 ngày 26/05/2006, cụ thể: quyền sử dụng đất thửa số 251, tờ bản đồ số 09 tọa lạc tại 50/16/5 Q, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ có tài sản gắn liền trên đất là căn nhà có cấu trúc cấp 4 với số tầng 01 – gác ván. Hơn nữa, bản di chúc có nội dung thể hiện rõ ý chí việc lập di chúc của bà H3 là chỉ định tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người được thừa hưởng là bà La Kim Q. Như vậy, theo nội dung này thì bà đã xác định di sản, nơi để lại di sản là căn nhà và đất tọa lạc tại 5 Q, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Đồng thời, người được hưởng di sản theo di chúc là bà La Kim Q. Như đã nhận định trên, di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 là di chúc hợp pháp do đó di sản của bà H3 sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc, không chia theo pháp luật cho các hàng thừa kế của bà H3 trong đó có bà H2. Theo nội dung di chúc thì di sản của bà H3 chỉ định bà Q là người được thừa hưởng, vì vậy yêu cầu kháng cáo của bà V, ông H về việc chia di sản của bà H2 (hưởng thừa kế theo pháp luật của bà H3) là không có căn cứ chấp nhận.
  10. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 ngày 28/03/2006. Quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm ông Nguyễn Phúc H1 thừa nhận đang giữ bản chính để đảm bảo số nợ vay của bà La Thị H3. Mặc dù, ông H1 không có yêu cầu độc lập nhưng việc thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà H3 cho ông H1 là trái với quy định của pháp luật, do đó cần buộc ông H1 giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Q là người thừa hưởng di sản của bà H3.
  11. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận một phần về việc công nhận di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 là di chúc hợp pháp.
  12. Về chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: Chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản tổng cộng 2.540.000 đồng, bà La Thị Cẩm V phải chịu.
  13. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà La Cẩm V, ông La Thanh H được miễn nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà La Thị Cẩm V và người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông La Thanh H.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 261/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
    1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà La Thị Cẩm V về việc:
      • - Chia di sản thừa kế theo pháp luật Thửa đất số 251 có gắn liền với căn nhà, tờ bản đồ số 09, diện tích 73,90m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 28/3/2006 cho bà Nguyễn Thị H2, bà H2 đã tặng cho và cập nhật chỉnh lý chủ sở hữu là bà La Thị H3 ngày 26/5/2006.
      • Không chấp nhận yêu cầu không công nhận di chúc ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3.
    2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà La Kim Q về việc công nhận di chúc lập ngày 16/12/2009 của bà La Thị H3 là di chúc hợp pháp.

      Bà La Kim Q được hưởng toàn bộ di sản theo di chúc ngày 16/12/2009 là Thửa đất số 251 có gắn liền với căn nhà, tờ bản đồ số 09, diện tích 73,90m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 28/3/2006 cho bà Nguyễn Thị H2, bà H2 đã tặng cho và cập nhật chỉnh lý chủ sở hữu là bà La Thị H3 ngày 26/5/2006.

      Bà La Kim Q có quyền tự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để lập thủ tục đứng tên quyền sở hữu, sử dụng tài sản hưởng thừa kế nêu trên.

      Ghi nhận sự tự nguyện của bà La Kim Q đồng ý cho ông La Thanh H được sinh sống trong căn nhà trên thửa đất số 251 tờ bản đồ số 09, diện tích 73,90m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 28/3/2006 cho bà Nguyễn Thị H2, bà H2 đã tặng cho và cập nhật chỉnh lý chủ sở hữu là bà La Thị H3 ngày 26/5/2006, cho đến khi ông La Thanh H mất.

    3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông La Thanh H về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật thửa đất số 251 có gắn liền với căn nhà, tờ bản đồ số 09, diện tích 73,90m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302 do Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 28/3/2006 cho bà Nguyễn Thị H2, bà H2 đã tặng cho và cập nhật chỉnh lý chủ sở hữu là bà La Thị H3 ngày 26/5/2006.
  3. Về chi phí tố tụng:
    1. Chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng). Bà La Thị Cẩm V tự nguyện chịu, bà V đã thực hiện xong
    2. Chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: Chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản tổng cộng 2.540.000 đồng (hai triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng), bà La Thị Cẩm V phải chịu.
  4. Về án phí dân sự:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà La Thị Cẩm V và ông La Thanh H được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bà La Kim Q không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà La Thị Cẩm V và ông La Thanh H được miễn theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.Cần Thơ;
  • - TAND quận Ninh Kiều;
  • - Chi Cục THADS quận Ninh Kiều;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 256/2024/DSPT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 256/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vân - Quang - Tranh chấp di sản thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger