TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 256/2024/DS-ST Ngày: 09 - 8 - 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- - -
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn và ông Lê Thành Thật
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 306/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 432/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 428/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (B)
Trụ sở chính: Tháp B, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Chủ tịch Hội đồng Quản trị B.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Bé T1 - Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh A. (Theo Quyết định ủy quyền số 545/QĐ-BIDV, ngày 22/6/2021 của Chủ tịch hội đồng quản trị B)
Người được ủy quyền lại:
- + Ông Nguyễn Minh T2 – Trưởng phòng khách hàng cá nhân - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh A. (Vắng mặt)
- + Bà Lê Thị Trúc L – Chuyên viên phòng khách hàng cá nhân - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh A. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
(Theo Quyết định ủy quyền số 613/QĐ-BIDV.AG, ngày 30/11/2023 của Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh A).
Bị đơn: Bà Đào Thị Mỹ H, sinh năm 1978, (Vắng mặt)
Cư trú: Số B, khóm Đ (nay là khóm Đ), phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: số A L, khóm E, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 21/9/2017 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – chi nhánh A (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với bà Đào Thị Mỹ H có ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2017/6985043/HĐTD ngày 21/9/2017 về việc Ngân hàng cho bà H vay tiêu dùng tín chấp Cán bộ công nhân viên, với nội dung như sau: Hình thức vay: vay món; số tiền vay: 80.000.000đ; thời hạn vay: 60 tháng, kể từ ngày 21/9/2017 đến ngày 21/9/2022; mục đích vay: tiêu dùng phục vụ đời sống; lãi suất cho vay trong hạn: 11,2%/ năm (được áp dụng tới ngày 30/9/2017) và sau đó được điều chỉnh 06 tháng/lần vào các ngày 01/4 và 01/10 hàng năm theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lịch trả nợ gốc: bên vay có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng trong 60 kỳ (mỗi kỳ 01 tháng) vào ngày 25 hàng tháng, số tiền trả nợ hàng tháng là từ tháng 10/2017 đến tháng 8/2022 trả số tiền 1.340.000đ, riêng kỳ cuối ngày 21/9/2022 trả số tiền 940.000đ; lịch trả lãi hàng tháng vào ngày 25 hàng tháng.
Tính đến ngày 18/3/2022, bà H đã thanh toán cho Ngân hàng hơn 53 kỳ với số tiền 88.221.672đ, trong đó vốn gốc 71.520.000đ, tiền lãi 16.701.672đ.
Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ làm việc, nhắc nhở nhưng bà H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết: Buộc bà Đào Thị Mỹ H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ do Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – chi nhánh A đại diện nhận tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/8/2024 là 12.241.565đ, trong đó: vốn gốc là 8.480.000đ; lãi là 3.761.565đ (trong đó: lãi trong hạn là 2.483.455đ, lãi phạt gốc quá hạn là 1.085.657đ và lãi phạt lãi quá hạn là 192.453đ) và tiền lãi phát sinh tính theo Hợp đồng đã ký ngày 21/9/2017 trên số dư nợ chưa thanh toán cho đến khi thi hành án xong.
Bị đơn bà Đào Thị Mỹ H không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.
Tại phiên toà:
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/8/2024 là 12.241.565đ, trong đó: vốn gốc là 8.480.000đ; lãi là 3.761.565đ (trong đó: lãi trong hạn là 2.483.455đ, lãi phạt gốc quá hạn là 1.085.657đ và lãi phạt lãi quá hạn là 192.453đ) và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 01/2017/6985043/HĐTD ngày 21/9/2017 đã ký.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ khởi kiện bà Đào Thị Mỹ H yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 01/2017/6985043/HĐTD ngày 21/9/2017. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Đào Thị Mỹ H đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố L nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2.2] Ngân hàng thương mại cổ phần Đ do ông Phan Đức T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị B là người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Bé T1, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh A (Theo Quyết định ủy quyền số 545/QĐ-BIDV, ngày 22/6/2021 của Chủ tịch hội đồng quản trị B). Ông T1 ủy quyền cho ông Nguyễn Minh T2; chức vụ: Trưởng phòng khách hàng cá nhân - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh A và bà Lê Thị Trúc L; chức vụ: Chuyên viên phòng khách hàng cá nhân - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh A (Theo Quyết định ủy quyền số 613/QĐ-BIDV.AG, ngày 30/11/2023 của Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh A). Thủ tục ủy quyền này phù hợp với quy định pháp luật nên ông T2 và bà L tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 85, Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (gọi tắt là Ngân hàng) và bà Đào Thị Mỹ H ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2017/6985043/HĐTD vào ngày 21/9/2017 với nội dung: Ngân hàng cho bà H vay số tiền: 80.000.000đ; thời hạn vay: 60 tháng; mục đích vay: tiêu dùng phục vụ đời sống; lãi suất cho vay trong hạn: 11,2%/ năm (được áp dụng tới ngày 30/9/2017) và sau đó được điều chỉnh 06 tháng/lần vào các ngày 01/4 và 01/10 hàng năm theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; lịch trả nợ gốc: vào ngày 25 hàng tháng, số tiền trả nợ hàng tháng là từ tháng 10/2017 đến tháng 08/2022 trả số tiền 1.340.000đ, riêng kỳ cuối ngày 21/9/2022 trả số tiền 940.000đ; lịch trả lãi: vào ngày 25 hàng tháng. Trong quá trình vay, bà H đã thanh toán cho Ngân hàng được hơn 53 kỳ với số tiền 88.221.672đ, trong đó vốn gốc 71.520.000đ, tiền lãi 16.701.672đ. Do bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H phải trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/8/2024 là 12.241.565đ, trong đó: vốn gốc là 8.480.000đ; lãi là 3.761.565đ (trong đó: lãi trong hạn là 2.483.455đ, lãi phạt gốc quá hạn là 1.085.657đ và lãi phạt lãi quá hạn là 192.453đ), đồng thời yêu cầu bà H phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 01/2017/6985043/HĐTD ngày 21/9/2017 trên số dư nợ chưa thanh toán cho đến khi trả dứt nợ.
[3.2] Hội đồng xét xử xét, Hợp đồng tín dụng số 01/2017/6985043/HĐTD ngày 21/9/2017 giữa Ngân hàng và bà H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng này có giá trị pháp lý. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bà H đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi suất đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H có trách nhiệm thanh toán vốn, lãi tạm tính đến ngày 09/8/2024 là 12.241.565đ, trong đó: vốn gốc là 8.480.000đ; lãi là 3.761.565đ (trong đó: lãi trong hạn là 2.483.455đ, lãi phạt gốc quá hạn là 1.085.657đ và lãi phạt lãi quá hạn là 192.453đ) và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 01/2017/6985043/HĐTD ngày 21/9/2017 đã ký là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đối với bà Đào Thị Mỹ H.
Buộc bà Đào Thị Mỹ H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ do Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – chi nhánh A đại diện nhận tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/8/2024 là 12.241.565đ, trong đó: vốn gốc là 8.480.000đ; lãi là 3.761.565đ (trong đó: lãi trong hạn là 2.483.455đ, lãi phạt gốc quá hạn là 1.085.657đ và lãi phạt lãi quá hạn là 192.453đ).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/8/2024) bà Đào Thị Mỹ H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 01/2017/6985043/HĐTD ngày 21/9/2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đào Thị Mỹ H phải nộp 612.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ do Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – chi nhánh A đại diện nhận được nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002099 ngày 22/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và bà Đào Thị Mỹ H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |
Bản án số 256/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 256/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đ kiện Đào Thị Mỹ H
