|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 256/2024/DS-PT Ngày: 04 - 7 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập;
Ông Đặng Minh Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/DSST ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 133/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1952; Cư trú tại: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà L: Luật sư Lê Anh T, là Luật sư của Văn phòng luật sư Lê Anh T, thuộc Đoàn luật sư tỉnh C.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Út H (Đã chết).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1958; Cư trú tại: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1977; Cư trú tại: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Kim C, sinh năm 1980; Cư trú tại: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1980; Cư trú tại: Áp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1987; Cư trú tại: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Tuyết N, sinh năm 1987;
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1989.
Cùng cư trú tại: Áp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị L1, bà Phạm Thị T3, bà Nguyễn Kim C, bà Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Tuyết N, ông Nguyễn Văn N1: Ông Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1987; Cư trú tại: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Hoàng T2: Luật sư Võ Thanh T4, là Luật sư của Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm: 1951; Cư trú tại: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật của ông Nguyễn Văn T5: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1952. Cư trú tại: Áp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn T5: Luật sư Dư Đình V, là Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C.
- Ông Huỳnh Văn S1, sinh năm 1962; Cư trú tại: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L1 và ông Nguyễn Hoàng T2 – Bị đơn
- Kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.
Bà Nguyễn Thị L, Luật sư Lê Anh T, ông Nguyễn Hoàng T2, Luật sư Võ Thanh T4, Luật sư Dư Đình V có mặt tại phiên tòa, các đương sự khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Về nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ ruột của ông T5 là cụ Nguyễn Tấn D (đã chết) và cụ Lê Thị K (đã chết) cho ông T5 vào năm 1971, cho diện tích ngang 35m dài 40m, đất toạ lạc ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Việc tặng cho không lập văn bản, ông T5, bà L sử dụng phần đất từ năm 1971 cho đến nay. Ông Nguyễn Út H là em ruột của ông Nguyễn Văn T5, chung sống cùng cụ D và vụ K. Phần đất của ông T5 liền kề với phần đất còn lại mà cụ D, cụ K cho ông H, ông H làm quyền sử dụng đất bao trùm cả phần đất của ông T5. Đến tháng 9 năm 2008, do Nhà nước thu hồi phần đất phía trước để làm lộ, ông H và phía bà L có lập biên bản họp gia đình ngày 24/9/2008, giấy cam kết cho đất ngày 28/9/2008 để thể hiện phần đất là của ông T5, bà L, nhằm để bà L, ông T5 nhận tiền đền bù khi làm lộ và để tách quyền sử dụng đất. Bà L biết việc ông H đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bà sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp nên không có ý kiến gì đến khi ông T2 (Là con ruột ông H, sống chung nhà với ông H) thực hiện việc đo đạc phần đất của ông H lấn qua phần đất của bà L và ông T5 nên phát sinh tranh chấp. Nay bà yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho tại “giấy cam kết cho đất thổ cư” ngày 28/9/2008 về việc tặng cho ông T5 phần đất chiều ngang 35m dài 39m, toạ lạc ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Giữ nguyên hiện trạng phần đất trên cho ông T5, bà L quản lý, sử dụng theo đo đạc thực tế là 955m², điều chỉnh lại diện tích đất của ông H đối với phần tranh chấp sang cho ông T5 và bà L.
Đại diện theo uỷ quyền của người kế thừa quyền, nghĩa vụ cho bị đơn ông Nguyễn Hoàng T2 trình bày:
Nguồn gốc đất là của cụ D và cụ K. Vào năm 1996, cụ K thực hiện việc phân chia đất cho các con, trong đó cho ông H phần đất diện tích 23.580m², ông T5 diện tích 9.700m², ông Nguyễn Văn T6 diện tích 9.700m². Ông H và ông T5 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được cụ K tặng cho. Do phần đất của cụ K cho ông T5 là đất ruộng nên cụ K nói với ông H để cho ông T5, bà L cất nhà ở trên phần đất của ông H được tặng cho, khi nào đi nơi khác sinh sống thì trả lại đất, do đó gia đình bà L sinh sống trên đất từ trước đến nay ông H không có ý kiến gì. Ngày 23/4/2023, ông H chết. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H gồm có bà Nguyễn Thị L1, bà Phạm Thị T3, bà Nguyễn Kim C, bà Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Tuyết N, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Hoàng T2. Ông T2 xác định không có việc lập biên bản họp gia đình ngày 24/9/2008, giấy cam kết cho đất ngày 28/9/2008, ông H không có ký tên vào các văn bản đó. Ông T2 không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn. Tuy nhiên, do ông T5, bà L là người thân trong gia đình, gia đình bà L cũng không có chỗ ở nào khác nên ông T2 thống nhất giao lại cho ông T5, bà L 15m ngang để gia đình bà L cất nhà sinh sống.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/DSST ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L. Buộc bà Nguyễn Thị L1, bà Phạm Thị T3, bà Nguyễn Kim C, bà Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Tuyết N, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Hoàng Tính g cho nguyên đơn phần đất diện tích 955m². Toạ lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. (Thuộc thửa số 1, thửa số 2 sơ đồ đo đạc kèm theo).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 06/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời nhận được đơn kháng cáo ghi ngày 04/3/2024 của ông Nguyễn Hoàng T2 và bà Nguyễn Thị L1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn. Ông T2 và bà L1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, buộc bà L trả lại diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế.
Ngày 18/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNT-VKS-DS ngày 18/3/2024. Theo đó đề nghị Tòa án dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm theo hướng sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thể hiện tại giấy cam kết cho đất ngày 28/9/2008, giữ nguyên hiện trạng phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 955 m² tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau cho nguyên đơn quản lý sử dụng và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn chỉ phải chịu án phí dân sự không giá ngạch 300.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Hoàng T2 trình bày:
Phía nguyên đơn ở từ năm 1971 nhưng vì sao không đăng ký quyền sử dụng đất, không nộp thuế đất ở. Bị đơn xác định không có lập biên bản họp gia đình ngày 24/9/2008, giấy cam kết cho đất ngày 28/9/2008. Việc gia đình bà L ở trên đất là do gia đình bà L không có chỗ ở. Phần đất của ông H có nguồn gốc được cha mẹ tặng cho. Do vậy, ông H cho gia đình bà L mượn phần đất mặt tiền để cất nhà ở, khi nào đi nơi khác sinh sống thì trả lại đất. Mặt khác, ông H và bà L1 là vợ chồng, trường hợp ông H có lập giấy cam kết cho đất ngày 28/9/2008 thì cũng không hợp pháp và đề nghị cấp phúc thẩm dừng phiên tòa để giám định chữ ký trong giấy cho đất. Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị L trình bày:
Nguồn gốc đất là của cụ D và cụ K. Như vậy, phần đất tranh chấp có nguồn gốc là đất của gia đình. Ông T5 được cụ D, cụ K cho đất vào năm 1971, việc tặng cho không lập văn bản. Tuy nhiên, ông T5, bà L cùng các con sử dụng phần đất từ năm 1971 cho đến nay, có đóng thuế đất ở. Đồng thời, ông Nguyễn Út H và phía bà L có lập biên bản họp gia đình ngày 24/9/2008, giấy cam kết cho đất ngày 28/9/2008 để thể hiện phần đất là của ông T5, bà L, nhằm để bà L, ông T5 nhận tiền đền bù khi làm lộ và thực tế gia đình bà L đã được nhận tiền đền bù đối với phần đất thu hồi để làm lộ trong phần đất gia đình bà L quản lý. Do đó Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm số 40/2024/DSST ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng T2 và bà Nguyễn Thị L1, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ ruột của ông T5 và ông H là cụ Nguyễn Tấn D và cụ Lê Thị K. Gia đình bà L, ông T5 sinh sống trên phần đất tranh chấp từ năm 1971. Khi các con bà L có gia đình, bà L cho cất nhà và sinh sống trên phần đất tranh chấp đến nay. Trong quá trình sử dụng đất ông T5, bà L thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính thuế đối với nhà nước (bút lục 56, 57).
[2.2] Ông Nguyễn Út H sống cùng cụ D và cụ K. Phần đất của ông T5 liền kề với phần đất còn lại mà cụ D và cụ K cho ông H, ông H đăng ký làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến tháng 9 năm 2008 do Nhà nước thu hồi phần đất phía trước để làm lộ, ông H và bà L có lập biên bản họp gia đình ngày 24/9/2008 và giấy cam kết cho đất ngày 28/9/2008 xác định phần đất là của ông T5 và bà L để bà L và ông T5 được nhận tiền đền bù khi làm lộ. Tại thông báo về việc thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng để xây dựng đường ô tô đến trung tâm xã K ngày 4/8/2009 của Ủy ban nhân dân xã K xác định hộ ông Nguyễn Văn T5 được hỗ trợ bồi thường. Bà L đã nhận tiền bồi thường xong (bút lục 53-55). Mặt khác, tại biên bản hòa giải tranh chấp đất tại xã K ngày 12/5/2021 ông Nguyễn Út H cũng thừa nhận Nhà nước bồi thường tiền lộ cho bà L (bút lục 09), trong khi phần đất này nằm trong diện tích đất 23.580 m² mà ông H được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 26/2/1996.
[2.3] Vợ chồng ông T5, bà L đã xây dựng nhà ở trên phần đất tranh chấp từ năm 1971, thực hiện đầy đủ việc đóng thuế đất cho Nhà nước. Thời gian quản lý, sử dụng đất, ông bà có cho con cất nhà ở nhưng ông H và gia đình không ngăn cản. Ông H cũng thừa nhận việc bà L được nhận tiền bồi thường đất và cây trồng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất làm lộ ô tô đến trung tâm xã K, trong khi ông H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, ông H và bà L1 xác định không có ký vào giấy cam kết cho đất ngày 28/9/2008 nhưng tại cấp sơ thẩm phía bị đơn không có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết để chứng minh cho lời trình bày của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn yêu cầu giám định chữ ký của ông H, bà L1. Nhận thấy tại “Giấy cam kết cho đất thổ cư” có xác nhận của ông Nguyễn Văn T7 là trưởng ấp, tuy trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, ông T7 có ý kiến là không phải chữ ký của ông nhưng trong “Giấy cam kết cho đất thổ cư” có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K về chữ ký của ông Nguyễn Văn T7 là đúng. Việc tại cấp sơ thẩm phía bị đơn không yêu cầu giám định và việc có xác nhận của Chính quyền địa phương như nêu trên, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết giám định nên không chấp nhận yêu cầu giám định.
[3] Từ những tình tiết, chứng cứ và phân tích nêu trên cho thấy cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm buộc những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông H giao cho nguyên đơn phần đất diện tích 955 m² tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện T là không đúng, không thể thực hiện được, vì phần đất tranh chấp đã và đang do nguyên đơn quản lý, sử dụng từ năm 1971 đến nay. Mặt khác, theo đơn khởi kiện nguyên đơn chỉ yêu cầu công nhận việc tặng cho đất và giữ nguyên hiện trạng phần đất đang tranh chấp.
Ngoài ra bản án còn tuyên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là không đúng. Do nguyên đơn chỉ yêu cầu công nhận việc tặng cho đất và được tòa án chấp nhận. Thì phía vị đơn chỉ phải chịu án phí không giá ngạch là 330.000 đồng.
[4] Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng T2 và bà Nguyễn Thị L1, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, sửa Bản án sơ thẩm số 40/2024/DSST ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau và lời trình bày, đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.
Lời trình bày của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị L đã nộp chi phí tố tụng tổng cộng số tiền 5.631.800 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc những người kế thừ quyền, nghĩa vụ của bị đơn phải hoàn lại cho nguyên đơn (nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Trần Văn Thời).
[6] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bị đơn phải chịu án phí không giá ngạch 300.000 đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Hoàng T2 phải chịu 300.000 đồng; bà Nguyễn Thị L1 được miễn do là người cao tuổi.
[7] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng T2 và bà Nguyễn Thị L1.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DSST ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn thời, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thể hiện tại giấy cam kết cho đất ngày 28/9/2008, giữ nguyên hiện trạng phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 955 m², tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (thuộc thửa số 1, thửa số 2 sơ đồ đo đạc kèm theo) cho nguyên đơn quản lý sử dụng.
Các đương sự tự liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai để đăng ký quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện theo quy định của Luật Đất đai.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị L1, bà Phạm Thị T3, bà Nguyễn Kim C, bà Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Tuyết N, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Hoàng T2 trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 5.631.800đ (năm triệu sáu trăm ba mươi mốt ngàn tám trăm đồng).
Đối với khoản tiền nêu trên, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L1, bà Phạm Thị T3, bà Nguyễn Kim C, bà Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Tuyết N, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Hoàng T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch, số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Hoàng T2 phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Ngày 07/3/2024 ông Nguyễn Hoàng T2 đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai số 0004647, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Bà Nguyễn Thị L1 được miễn nộp (đã được miễn nộp tạm ứng án phí).
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thành Lập |
Đặng Minh Trung |
Đỗ Cao Khánh |
Bản án số 256/2024/DS-PT ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 256/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hai bên tranh chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
