|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 256/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Huy Viện và ông Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Nam – Kiểm sát viên
Ngày 29/5/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45A/2025/TLST-HNGĐ ngày 04/02/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1992
- Địa chỉ: xóm A, xã S (nay là xã V), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: anh Nguyễn Công V, sinh năm 1990
- Địa chỉ: xóm A, xã S (nay là xã V), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở Đài Loan. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Công H, sinh năm 1966 và bà Hồ Thị B, sinh năm 1968. Địa chỉ: thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (bà B xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/9/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Công V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/9/2014 tại UBND xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2021, anh Nguyễn Công V đi làm việc tại Đài Loan. Trong những năm chồng đi nước ngoài, một mình chị Phạm Thị T vừa làm vừa nuôi con, chồng không gửi tiền về cho chị. Chính vì vậy, cuộc sống vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và mâu thuẫn ngày càng nhiều hơn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung. Mặc dù vợ chồng mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị Phạm Thị T thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Công Vĩnh.
Về con chung: vợ chồng có hai người con chung là cháu Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 09/4/2015 và cháu Nguyễn Công Bảo L, sinh ngày 19/12/2018. Hiện cháu Nguyễn Thị Như Q đang sống cùng chị T; cháu Nguyễn Công Bảo L đang sống cùng ông bà nội là ông Nguyễn Công H và bà Hồ Thị B. Nếu ly hôn, nguyện vọng của chị T là được nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh Nguyễn Công V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Công V: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, công văn yêu cầu anh Nguyễn Công V có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cho anh Nguyễn Công V thông qua ông Nguyễn Công H và bà Hồ Thị B là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Công V; đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND xã S (nay là xã V), huyện Q, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam của anh Nguyễn Công V nhưng hiện tại anh Nguyễn Công V vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Hồ Thị B trình bày: Năm 2021, anh Nguyễn Công V đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến nay chưa về nước lần nào. Anh Nguyễn Công V thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh Nguyễn Công V ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Bà đã thông báo cho anh Nguyễn Công V biết về việc chị Phạm Thị T làm đơn xin ly hôn nhưng anh Nguyễn Công V không có ý kiến gì. Khoảng tháng 4/2024, ông bà nuôi dưỡng cháu Nguyễn Công Bảo L từ đó cho đến nay. Mọi chi phí nuôi cháu đều do bố cháu là anh Nguyễn Công V chu cấp. Nếu chị T, anh Vĩnh ly hôn ông bà không có yêu cầu gì về chi phí nuôi cháu. Về vấn đề nuôi cháu, bà đề nghị giải quyết theo pháp luật, nếu Tòa án giao cháu Bảo L cho anh Vĩnh nuôi thì bà đồng ý chăm sóc cháu cho đến khi anh V về nước.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có ý kiến gửi cho Tòa án.
Cháu Nguyễn Thị Như Q trình bày: cháu là con của mẹ Phạm Thị T và bố Nguyễn Công Vĩnh. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu thân nhân của anh V cung cấp địa chỉ của anh V ở nước ngoài cho Tòa án. Thông qua lời khai của bà Hồ Thị B là mẹ đẻ của anh V có căn cứ xác định bị đơn anh Nguyễn Công V hiện đang ở nước ngoài và vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình, anh V đã biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị T nhưng anh V vẫn không gửi ý kiến về cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là có cơ sở.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Công Vĩnh. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Thị Như Q và cháu Nguyễn Công Bảo L cho chị Phạm Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con chung do nguyên đơn không có yêu cầu nên miễn xét. Về chi phí nuôi cháu Bảo L, bà Hồ Thị B không yêu cầu nên miễn xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu. Chị Phạm Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Công V có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Công văn số 1959/PA08-Đ1 ngày 29/5/2025 của Phòng Q1 Công an tỉnh N và lời trình bày của bà Hồ Thị B là mẹ đẻ của bị đơn anh Nguyễn Công V thì có căn cứ xác định hiện nay anh Nguyễn Công V đang cư trú tại nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh Nguyễn Công V cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh V cho Tòa án. Do đó, việc anh Nguyễn Công V vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Công V, ông Nguyễn Công H đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Phạm Thị T, bà Hồ Thị B vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Công V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Nay, chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh V. Theo trình bày của bà Hồ Thị B thì anh V biết việc chị T đề nghị ly hôn nhưng cũng không có ý kiến mong muốn hòa giải đoàn tụ gửi cho Tòa án. Do đó, xét thấy, hôn nhân của chị T, anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Công Vĩnh.
[3] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 09/4/2015 và cháu Nguyễn Công Bảo L, sinh ngày 19/12/2018. Ly hôn, chị Phạm Thị T có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Công V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay anh Nguyễn Công V đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, không rõ địa chỉ, chị Phạm Thị T và các con đều đang ở Việt Nam, cháu Quỳnh N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để ổn định sinh hoạt và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu, cần giao cháu Nguyễn Thị Như Q và cháu Nguyễn Công Bảo L cho chị Phạm Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Anh Nguyễn Công V có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về chi phí nuôi dưỡng cháu Nguyễn Công Bảo L: bà Hồ Thị B không có yêu cầu nên miễn xét. Hiện nay ông Nguyễn Công H chưa có ý kiến nên giành quyền khởi kiện cho ông H khi có yêu cầu.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Nguyễn Công V chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[5] Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 37; 40; 147; 227; 228; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Công Vĩnh.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 09/4/2015 và cháu Nguyễn Công Bảo L, sinh ngày 19/12/2018 cho chị Phạm Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Nguyễn Công V có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị T chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Công Bảo L: Dành quyền khởi kiện cho ông Nguyễn Công H khi có yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013865 ngày 13/01/2015. Chị Phạm Thị T đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Chị Phạm Thị T, ông Nguyễn Công H, bà Hồ Thị B có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Nguyễn Công V đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Võ Duy Bảo Mai H2 Viện | Nguyễn Thị Thu T1 |
Bản án số 256/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 256/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN PHẠM THỊ T - NGUYỄN CÔNG V
