|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 256/2025/HNGĐ - ST
Ngày 28/11/2025
“V/v: Tranh chấp Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thịnh Quang Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Vĩ
- Ông Dương Văn Xuyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lập Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 100/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXX-ST ngày 13 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Đào Thị L. Sinh năm 1984.
- * Bị đơn: Ông Bùi Văn H. Sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố Hà Nội
Có mặt: Chị L
Vắng mặt: Anh H (có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/7/2025 và các lời khai theo nguyên đơn là chị Đào Thị L trình bày:
Chị và anh Bùi Văn H đã kết hôn vào ngày 19/02/2004 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, tôi làm công nhân và bây giờ đã nghỉ ở nhà tại thôn Đ - xã T - thành phố Hà Nội và tôi ở chung với gia đình nhà chồng được 1 năm. Quá trình chung sống mấy năm trở lại đây vợ chồng chị thường xảy ra xích mích, thường xuyên cãi vã và làm tổn thương tinh thần, cũng như thể xác của cả hai bên. Nhiều năm qua chị đã nhẫn nhịn, chịu đựng để chờ con chị được trưởng thành, có đầy đủ tình cảm của cả cha và mẹ, an tâm học hành và thi cữ, làm việc. Tuy nhiên đời sống vợ chồng ngày càng ngột ngạt, không có tình yêu thương nhau, vì vậy khoảng 03 tháng gần đây, chị đã sống ly thân với chồng. Chị nhận thấy đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy chị đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn.
* Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung: Bùi Thị Hương G, sinh năm 2005 và Bùi Tuấn K, sinh năm 2007 và không có còn người con riêng nào. Hiện nay các cháu đang ở với bố, cả hai cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành, chị không đề nghị Tòa giải quyết.
* Về tài sản chung: chị không đề nghị Tòa giải quyết, chị sẽ tự thỏa thuận riêng.
* Về vay nợ: chúng chị không có khoản nợ chung nào nên không đề nghị tòa án giải quyết.
* Anh Bùi Văn H có lời khai như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh nhất trí với chị L trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do chị L có quan hệ tình cảm với người khác. Anh và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng chị L không thay đổi. Chị L đã tự ý ra ngoài ở trọ được mấy tháng. Nay chị L xin ly hôn anh xác định tình cảm không còn. Anh đồng ý ly hôn chị L.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung: Bùi Thị Hương G, sinh năm 2005 và Bùi Tuấn K, sinh năm 2007 và không có còn người con riêng nào. Hiện nay các cháu đang ở với anh, cả hai cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành, anh không đề nghị Tòa giải quyết.
- Về tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa.
- Chị Đào Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Văn H; về con chung: con chung đã thanh niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết; Về tài sản, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Kể từ ngày nhận đơn, thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 147, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị HĐXX:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đào Thị L, cho chị Đào Thị L được ly hôn anh Bùi Văn H
- Về con chung: Vợ chồng anh H, chị L có có 02 người con chung: Bùi Thị Hương G, sinh năm 2005 và Bùi Tuấn K, sinh năm 2007 và không có còn người con riêng nào. Hiện nay các cháu đang ở với bố, cả hai cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành, chị không đề nghị Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Bị đơn là anh Bùi Văn H đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn Đ, xã T, thành phố Hà Nội. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7- Hà Nội.
[1.2] Anh H có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh H tại phiên toà là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị L và anh Bùi Văn H đăng ký kết hôn ngày 19/2/2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị có nhiều mâu thuẫn và chị L xin ly hôn anh H đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Đào Thị L và anh Bùi Văn H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị L đối với anh Bùi Văn H là phù hợp với quy định tại Điều 56 luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Đào Thị L và anh Bùi Văn H có có 02 người con chung: Bùi Thị Hương G, sinh năm 2005 và Bùi Tuấn K, sinh năm 2007 và không có còn người con riêng nào. Hiện nay các cháu đang ở với bố, cả hai cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành, chị không đề nghị Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Hai bên đều không yêu cầu xem xét giải quyết nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- - Các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- - Khoản 7 Điều 28; Điều 271, 273, 277 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đào Thị L. Chị Đào Thị L được ly hôn anh Bùi Văn H.
- Về con chung: Chị Đào Thị L và anh Bùi Văn H có có 02 người con chung: Bùi Thị Hương G, sinh năm 2005 và Bùi Tuấn K, sinh năm 2007. Cả hai con chung đều đã đủ tuổi trưởng thành, nên chị L, anh H không đề nghị Tòa giải quyết.
- Về án phí: Chị Đào Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/25E 0001291 ngày 21/7/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Chị Đào Thị L đã nộp đủ tiền án phí.
- Án xử công khai sơ thẩm, chị Đào Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
|
Nơi nhận
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thịnh Quang Thắng |
Bản án số 256/2025/HNGĐ - ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 256/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn giải quyết về con chung và các vấn đề khác có liên quan
