|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 256/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16-6-2025
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng và bà Ngô Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 73/2025/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 239/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Vũ Điện H, sinh ngày 13/10/1982. Số căn cước công dân: [...].
Địa chỉ: Khu C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh ngày 04/10/1984. Số căn cước công dân: [...].
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Vũ Điện H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 15/12/2010. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống cùng gia đình anh H, cuộc sống vợ chồng hòa hợp, hạnh phúc được khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm, vợ chồng không hòa hợp. Năm 2016 chị Y đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, một mình anh ở nhà gánh vác công việc gia đình và chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khiến mâu thuẫn thêm trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị đã sống ly thân, cuộc sống vợ chồng mỗi người một nơi và không có sự gắn kết, chia sẻ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị Y theo quy định.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Vũ Gia K, sinh ngày 29/8/2011. Do hiện nay chị Y đang lao động tại Đài Loan, cháu K đang ở cùng với anh nên khi ly hôn anh có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh đang làm lái xe có thu nhập và chỗ ở ổn định nên có đủ điều kiện để nuôi con tốt.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Con chung Vũ Gia K có nguyện vọng ở cùng với bố là anh Vũ Điện H.
Tại lời khai của ông Nguyễn Gia K1 (bố đẻ của chị Nguyễn Thị Y) thể hiện: Chị Y hiện đang sinh sống tại Đài Loan, địa chỉ cụ thể thì ông không biết, nhưng chị Y thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho chị Y biết. Anh H và chị Y được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại địa phương, do làm ăn kinh tế bị thất thoát nên chị Y làm thủ tục đi lao động ở Đài Loan. Trong thời gian chị Y ở nước ngoài, anh H ở nhà có quan hệ với người phụ nữ khác nên không còn qua lại với gia đình ông nữa. Bản thân ông cũng hòa giải, động viên nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Nay anh H có đơn xin ly hôn là quyền quyết định của anh chị, ông đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết. Sau khi nhận các văn bản tố tụng, ông đã thông báo cho chị Y biết. Chị Y không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao đổi với ông qua điện thoại và xác định vợ chồng mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm chia sẻ và không có sự tin tưởng nên anh H làm đơn xin ly hôn thì chị cũng đồng ý.Về con chung: Do hiện nay chị đang lao động tại nước ngoài, con chung đang ở ổn định cùng anh H và đang ở độ tuổi cần sự bảo ban sát sao nên chị đề nghị giao con chung cho anh H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng và nhất trí việc anh H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tòa án xác minh tại địa phương nơi các đương sự đăng ký kết hôn và sinh sống thể hiện: Anh H và chị Y kết hôn hợp pháp và chuyển về sinh sống tại địa phương. Thời gian sau này chị Y đi lao động tại nước ngoài nên khu dân cư không nắm được cuộc sống vợ chồng anh chị. Anh H có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự trong vụ án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Vũ Điện H vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày. Bị đơn chị Nguyễn Thị Y vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), bị đơn giấu địa chỉ.
- Về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận cho anh V Điện Hạ ly hôn chị Nguyễn Thị Y; Về con chung: Giao con chung Vũ Gia K, sinh ngày 29/8/2011 cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện anh H không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con; Về án phí: Anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thị Y hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, có nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại khu C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, anh H không cung cấp được địa chỉ của chị Y tại Đài Loan. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu anh H và gia đình chị Y cung cấp địa chỉ, nhưng anh H và gia đình chị Y không cung cấp được. Ông Nguyễn Gia K1 (bố đẻ của chị Nguyễn Thị Y) xác định chị Y vẫn liên lạc với gia đình, ông đã thông báo về việc anh H có đơn xin ly hôn, chị Y không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
[1.3] Tại phiên tòa, bị đơn chị Y đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Điện H và chị Nguyễn Thị Y kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương, ngày 15/12/2010 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có sự tin tưởng nhau, không cùng hướng về mục đích xây dựng cuộc sống chung. Chị Nguyễn Thị Y không thể hiện quan điểm bằng văn bản nhưng thông qua việc liên lạc với gia đình, chị Y cũng xác định vợ chồng mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm, chia sẻ nên cũng đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Vũ Điện H và chị Nguyễn Thị Y đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm tới ai, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông qua lời khai của đại diện gia đình, quan điểm của địa phương và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh V Điện Hạ ly hôn chị Nguyễn Thị Y là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh Vũ Điện H và chị Nguyễn Thị Y có một con chung là Vũ Gia K, sinh ngày 29/8/2011. Xét về thực tế, cháu K có nguyện vọng được ở cùng với bố, thông qua gia đình chị Y cũng nhất trí giao con chung cho anh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Bản thân anh H có công việc với thu nhập và chỗ ở ổn định. Để đảm bảo sự ổn định và sự phát triển về mọi mặt của con chung, HĐXX chấp nhận giao cho anh V Điện Hạ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Gia K, sinh ngày 29/8/2011, chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị Y cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu chị Y có căn cứ cho rằng anh H không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì có quyền làm đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh H và chị Y không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật (nếu có).
[3] Về án phí: Nguyên đơn anh Vũ Điện H phải chịu án phí dân sự (về hôn nhân gia đình) sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh V Điện Hạ ly hôn chị Nguyễn Thị Y.
-
Về con chung: Giao cho anh V Điện Hạ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vũ Gia K, sinh ngày 29/8/2011 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị Y cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Không ai được cản trở chị Nguyễn Thị Y thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về án phí: Anh Vũ Điện H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân và gia đình). Đối trừ số tiền 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005537 ngày 19/02/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh H đã nộp đủ án phí.
-
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Vũ Điện H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 256/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 256/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Vũ Điện H xin ly hôn chị Nguyễn Thị Y
