Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 256/2025/DS-PT

Ngày: 27/06/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Các Thẩm Phán: Bà Nguyễn Thị Quyên
Bà Lê Thị Ký

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 64/2025/DS - PT ngày 17/02/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2025/QĐXX-PT ngày 07/05/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 442/2025/QĐ-PT ngày 29/05/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đỗ Hữu Phi L, sinh năm 1976; địa chỉ: 5 Quốc lộ A khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  1. Bà Trịnh Thị Thúy N, sinh năm 2001.
  2. Ông Hứa Huy H, sinh năm 1998.
  3. Bà Hứa Thị T, sinh năm 1986

Cùng địa chỉ: Số A, đường E, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Kim X, sinh năm 1971; địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Đỗ Thanh D, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Ấp 2, xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

  1. Anh Đỗ Đăng Q, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

  1. Bà Đinh Thị M, sinh năm 1965.
  2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1955.
  3. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1962.
  4. Ông Phạm Quang Đ, sinh năm 1978.
  5. Ông Lê Thanh C, sinh năm 1962.
  6. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1978.

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn bà N, bị đơn bà X, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Q có mặt còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 29/04/2021, ông Đỗ Hữu Phi L và bà Lê Thị Kim X có ký với nhau Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 559; tờ bản đồ số 45, diện tích 3.232,7 m²; vào sổ cấp Giấy chứng nhận số CS 13244, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 358191 (trong đó đất ở 300 m2, đất trồng cây lâu năm 2932,7 m2), tọa lạc tại địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai do Sở TN-MT tỉnh Đ cấp ngày 07/6/2021. Gắn liền với đất có 01 căn nhà cấp 4, diện tích 60m² với giá 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng); trong đó số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) ông L đã giao đủ cho bà X tại thời điểm ký Hợp đồng đặt cọc. Thời hạn từ khi đặt cọc đến khi hoàn tất việc ký Hợp đồng chuyển nhượng tại phòng công chứng là 90 ngày (tức là từ ngày 29/4/2021 đến hết ngày 27/7/2021). Tuy nhiên, do diễn biến tình hình dịch bệnh Covid 19 phức tạp, UBND tỉnh Đ đã có Chỉ thị 15/CT-UBND ngày 08/7/2021 và Công văn 9723/UBND-KGVX ngày 15/8/2021 của UBND tỉnh Đ về thực hiện nghiêm các biện pháp giãn cách xã hội theo tinh thần Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ. Vào khoảng cuối tháng 7, ông L đã liên lạc với bà X qua điện thoại và hai bên đã thống nhất: việc ký Hợp đồng gia hạn thêm một thời gian nữa vì dịch bệnh. Theo đó, thời hạn ký Hợp đồng chuyển nhượng được ông và bà X1 thống nhất, điều chỉnh gia hạn thêm một thời gian nữa cho đến khi dịch bệnh được khống chế và địa phương hết thực hiện giãn cách xã hội theo tinh thần Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ.

Ngày 12/08/2021, bà X đột nhiên thay đổi ý kiến không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng thửa đất trên cho ông L nữa, bà cho rằng ông L không thực hiện đúng thời gian như đã thỏa thuận trong Hợp đồng đặt cọc là ngày 27/7/2021 phải ra ký Hợp đồng chuyển nhượng có công chứng. Và bà X cho rằng tờ đặt cọc không còn giá trị, bà không tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa và ông L phải mất số tiền đã đặt cọc.

Ông L nhiều lần liên lạc với bà X để trao đổi nhưng bà X tắt điện thoại và không nhận cuộc gọi cũng như tin nhắn của ông. Ông L có nhờ ông Đ- người làm chứng tại địa phương, và ông C - Trưởng ban N1, xã X đến trao đổi, giải thích với bà X và yêu cầu bà X phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng như đã cam kết với ông và cho ông thêm thời gian vì ngay thời điểm này ông không để đi lại để ký hợp đồng khi hiện nay toàn tỉnh phải giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 và theo chủ trương của tỉnh cho nên các phòng công chứng hiện đóng cửa, nhưng bà X vẫn từ chối và không hợp tác. Bà X cho rằng ông vi phạm hợp đồng vì đã quá thời gian mà không chịu công chứng nên bà không bán đất cho ông nữa.

Do đó, ông Đỗ Hữu Phi L khởi kiện, yêu cầu bà Lê Thị Kim X thực hiện việc ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 559, tờ bản đồ số 45, diện tích 3.232,7 m2, vào số cấp GCN số CS 13244, số GCN: DC 358191 (trong đó đất ở 300 m2, đất trồng cây lâu năm 2.932,7 m²), tọa lạc tại địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai do Sở TN - MT tỉnh Đ cấp ngày 07/6/2021, gắn liền với đất có 01 căn nhà cấp 4, diện tích 60m² cho ông theo Hợp đồng đặt cọc ngày 29/4/2021 giữa ông với bà Lê Thị Kim X.

Ngày 01 tháng 7 năm 2024, ông Đỗ Hữu Phi L có đơn yêu cầu thay đổi yêu cầu khởi kiện. Cụ thể, ông L yêu cầu tòa án giải quyết các vấn đề đối với bị đơn như sau:

  • Tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ký kết ngày 29 tháng 04 năm 2021 giữa bà Lê Thị Kim X với ông Đỗ Hữu phi L.
  • Buộc bà Lê Thị Kim X có trách nhiệm hoàn trả cho ông L số tiền đã đặt cọc là 200.000.000 đồng và phải thanh toán số tiền phạt cọc tương đương số tiền đã đặt cọc là 200.000.000 đồng. Tổng số tiền ông yêu cầu bà X phải trả là 400.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn đề nghị Tòa án được thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể:

  • Đề nghị Tòa án tuyên “Hợp đồng mua bán đất” (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất) ký ngày 29/4/2021 giữa ông L với bà X là vô hiệu.
  • Buộc bà Lê Thị Kim X có trách nhiệm hoàn trả cho ông L số tiền đã đặt cọc là 200.000.000 đồng và phải thanh toán số tiền phạt cọc tương đương số tiền đã đặt cọc là 200.000.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu bà X phải trả là 400.000.000 đồng.

* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, quá trình làm việc và tại phiên tòa bị đơn Lê Thị Kim X trình bày:

Gia đình bà có lô đất được Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 610957 vào ngày 12/7/2006. Vào khoảng giữa tháng 4 năm 2021, ông Đỗ Hữu Phi L có đến nhà bà và đặt vấn đề muốn mua đất của gia đình bà. Bà có cung cấp giấy tờ đất là quyền sử dụng đất cho ông L và trao đổi rõ là đất này của gia đình bà chưa chia thừa kế do chồng bà mất nhưng ông L nói không sao, ông cho gia đình bà một thời gian để tiến hành các bước điều chỉnh sau và ông L nhất trí mua, đồng thời ông L đề nghị bà và gia đình bà hoàn tất thủ tục để điều chỉnh thủ tục đứng tên quyền sử dụng đất, các con bà đều đồng ý và ông L cũng đồng ý.

Ngày 29/4/2021 bà và ông L ký hợp đồng đặt cọc, ông L đặt cọc cho bà số tiền 200.000.000 đồng và thời hạn đặt cọc là 90 ngày (Từ này 29/4 - 27-7/2021) để gia đình bà điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có thời gian để ông L chuẩn bị đủ tiền rồi sẽ tiến hành ký thủ tục công chứng sang tên. Số tiền đặt cọc này bà dùng toàn bộ để đặt cọc mua đất ở nơi khác vì tin tưởng ông L sẽ mua đất của bà đúng thời gian. Tuy nhiên hiện nay bà bị mất cọc vì do ông L vi phạm thời gian đặt cọc, làm bà cũng bị vi phạm theo.

Ngày 06/5/2021 bà và các con hoàn tất thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Ngày 07/6/2021, bà được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất số DC 358191 đối với thửa 559, tờ bản đồ số 45, xã X.

Khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà thông báo cho ông L biết và đề nghị hai bên tiến hành thủ tục công chứng như thoả thuận hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên ông L lại ra nhiều lý do như tình hình dịch bệnh, không có mặt ở Đồng Nai để kéo dài thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng. Ông L vẫn thường xuyên tới lui tại địa phương và đặt cọc mua nhiều lô đất khác ở cạnh nhà bà nhưng hoàn toàn không đoái hoài gì đến việc tiếp tục thực hiện hợp đồng với bà.

Đến ngày 27/7/2021 khi hết thời hạn đặt cọc, ông L gọi điện thoại và xin bà cho ông L thêm 15 ngày để chuẩn bị đủ tiền. Bà cũng tạo điều kiện cho ông L nên bà đồng ý kéo dài đến ngày 12/8/2021 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng và giao đủ tiền như thoả thuận.

Tuy nhiên đến chiều ngày 12/8/2021, ông L không trao đổi gì với bà mà lại có ông T3 (không rõ họ tên, địa chỉ) gọi điện với bà và yêu cầu bà ra phải phòng công chứng để công chứng hợp đồng. Ông này cho biết sẽ giao cho bà 1.800.000.000 đồng tại phòng công chứng còn nợ lại số tiền 500.000.000 đồng, khi nào sang tên xong sẽ vay vốn và trả đủ cho bà. Tuy nhiên bà không đồng ý vì người đặt cọc là ông L chứ không phải ông này. Hơn nữa, ông L thỏa thuận khi nào công chứng sẽ giao đủ tiền mua bán đất chứ không có thỏa thuận nợ lại số tiền lớn như vậy. Trong chiều tối cùng ngày, ông C đến nhà bà và yêu cầu bà ra phòng công chứng để công chứng sang tên. Ông C không nhắc gì đến việc thanh toán tiền cho gia đình chúng bà, chỉ yêu cầu bà đi ký giấy. Tuy nhiên bà không đồng ý vì người đặt cọc cho bà là ông L chứ không phải ông C.

Bà cho rằng ông L không có thiện chí trong việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà có ý định lừa dối để chiếm đoạt tài sản của bà nên bà không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng với ông L nữa.

Sau đó ông L khởi kiện bà và thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu tuyên bố “Hợp đồng mua bán đất” ký ngày 29/4/2021 là vô hiệu và yêu cầu bà trả tổng số tiền là 400.000.000 đồng bà không đồng ý, bà đề nghị Toà án bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Hữu Phi L.

Tại bản tự khai và tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Đăng Q trình bày:

Anh Q là con của bà Lê Thị Kim X và ông Đỗ Văn C1. Nay anh thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của mẹ là bà Lê Thị Kim X. Anh Q không yêu cầu độc lập trong vụ án này.

Tại các bản tự khai, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Đỗ Thanh D trình bày:

Chị D là con của bà Lê Thị Kim X và ông Đỗ Văn C1, chị thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của mẹ là bà Lê Thị Kim X. Chị D không yêu cầu độc lập trong vụ án này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc:

Căn cứ các điều 26, 35, 39, 147, 155, 156, 157, 158, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 117, 122, 123, 131 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Hữu Phi L đối với bà Lê Thị Kim X về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”:
    1. Tuyên giao dịch dân sự được ký kết giữa ông Đỗ Hữu Phi L và bà Lê Thị Kim X tại “Hợp đồng mua bán đất” v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất ký ngày 29/4/2021 (viết tay) là vô hiệu.
    2. Buộc bà Lê Thị Kim X phải trả cho ông Đỗ Hữu Phi L số tiền là 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).

Kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Hữu Phi L đối với bà Lê Thị Kim X về việc yêu cầu bà Lê Thị Kim X phải trả số tiền phạt cọc là 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Các bên ký kết hợp đồng mua bán đất ngày 29/4/2021 nhưng cả hai đều xác định hợp đồng đặt cọc, bị đơn nhận số tiền 200.000.000 đồng chuyển nhượng đất nhưng phần đất đứng tên hộ ông Đỗ Văn C1 (ông C1 là chồng bà X đã chết năm 2015), chưa làm thủ tục thừa kế, sang tên bà X và các con bà X, như vậy tại thời điểm ký kết hợp đồng mua bán đất bà X và các con bà chưa phải là chủ sử dụng đất nên đã vi phạm về chủ thể được ký hợp đồng, vì vậy nguyên đơn yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu là có cơ sở chấp nhận, đề nghị y án sơ thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Lê Thị Kim X làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Nguyên đơn không kháng cáo.

[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Kim X đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm số 75/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét thấy: Thời điểm các bên ký kết hợp đồng mua bán nhà đất thì bà X và các con chưa thực hiện thủ tục thừa kế, chưa được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xác nhận chủ sử dụng mà đất vẫn đứng tên hộ ông Đỗ Văn C1 (ông C1 là chồng bà X chết năm 2015) nên bà X và các con chưa phải là chủ sở hữu nhà và quyền sử dụng đất hợp pháp, không được quyền bán, chuyển nhượng. Do đó, việc bà X và các con ký kết Hợp đồng mua bán nhà ngày 29/4/2021 và nhận số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng của ông L là vi phạm về chủ thể được quyền ký hợp đồng nên hợp đồng không đủ điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 117, Điều 119, Điều 122, Điều 123 và Điều 129 của Bộ luật Dân sự, vì vậy hợp đồng bị vô hiệu nên các bên chỉ phải trả cho nhau những gì đã nhận, bà X phải trả cho ông L số tiền đã nhận là 200.000.000 đồng mà không bị phạt cọc. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải chịu phạt cọc là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền chi phí tố tụng là 6.000.000 đồng. Do yêu cầu yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền chi phí tố tụng trên.

[4] Về án phí:

  • Bà X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
  • Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện về phạt cọc không được chấp nhận là 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).
  • Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Kim X.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 75/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Hữu Phi L đối với bà Lê Thị Kim X về việc tuyên bố “Hợp đồng mua bán đất” ký kết ngày 29/4/2021 là vô hiệu.

Buộc bà Lê Thị Kim X phải trả cho ông Đỗ Hữu Phi L số tiền là 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành án số tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải chịu thêm số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Hữu Phi L đối với bà Lê Thị Kim X về việc yêu cầu bà Lê Thị Kim X phải trả số tiền phạt cọc là 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).
  1. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Lê Thị Kim X phải thanh toán lại cho ông Đỗ Hữu Phi L tổng số tiền chi phí tố tụng là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
  1. Về án phí:
    • Án phí dân sự sơ thẩm:
      • + Bà Lê Thị Kim X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tổng số tiền là 10.300.000 đồng (Mười triệu ba trăm ngàn đồng).
      • + Ông Đỗ Hữu Phi L phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo Biên lai thu số 0011245 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.
    • Hoàn trả cho ông L số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0011246 ngày 01/7/2024 và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0006038 ngày 16/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.
    • Về án phí phúc thẩm: Bà Lê Thị Kim X phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai số 0026464 ngày 07/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kim Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 256/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 256/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger