Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 256/2024/HS-ST
Ngày: 12 – 12 – 2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông
  • Thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đây
  • Bà Trần Thủy Tiên
  • Ông Nguyễn Thanh Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Tiến D - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 267/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 285/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 20/3/1985 tại Đồng Nai. CMND số [...] cấp ngày 20/3/2020 tại Công an tỉnh Đ. Hộ khẩu thường trú: 14/8, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 09/12.

Tiền án: Ngày 21/02/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 50/HSST (ngày 23/8/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù); Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 05/10/2004, bị Ủy ban nhân dân thành phố B xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm giáo dục Lao động - xã hội tỉnh Đ.
  • - Ngày 19/7/2007, bị Ủy ban nhân dân thành phố B xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm giáo dục Lao động - xã hội tỉnh Đ.
  • - Ngày 20/4/2012, bị Ủy ban nhân dân thành phố B xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm giáo dục Lao động - xã hội tỉnh Đ.
  • - Ngày 11/4/2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 16 (mười sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo chấp hành chung là 18 (mười tám năm tù”.Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2022 ( theo Bản án số 28/HSST).

Họ và tên cha: Nguyễn Văn C, sinh năm 1956 (đã chết). Họ và tên mẹ: Trương Thị H, sinh năm 1954. Gia đình có 02 chị em, bị can là con thứ hai. Có vợ là Dương Thị Thanh H1, sinh năm 1991 (đã ly dị), có 01 con sinh năm 2019. Hiện bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T1 – Bộ C1.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn A: Ông Nguyễn Văn M – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Nguyễn Xuân T, sinh năm 1999. Địa chỉ: 5/16, KP2, P.H, TP ., TP . Hồ Chí Minh (vắng mặt);
  2. Nguyễn Thanh D1, sinh năm 1985. Địa chỉ: D tổ A, KP2, P.T, TP ., tỉnh Đồng Nai (vắng mặt);
  3. Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1980. Địa chỉ: 1, tổ B, KP3A, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai (có mặt);
  4. Bà Trương Thị H, sinh năm 1954. Địa chỉ: 1, tổ B, KP3A, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tuấn A là người nghiện ma túy và không có việc làm ổn định. Khoảng 17 giờ 53 phút ngày 05/6/2022, Tuấn A gọi điện thoại cho V (không rõ nhân thân lai lịch) và đặt mua 02 gói ma túy đá. V đồng ý bán với giá 31.000.000 đồng/01 lạng ma túy đá và yêu cầu chuyển trước một phần tiền mua ma túy. Sau đó, Tuấn A cầm số tiền mặt 31.000.000 đưa cho một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) nhờ chuyển vào số tài khoản Ngân hàng do V cung cấp. Nhận được tiền, V và Tuấn A hẹn đến địa chỉ Trạm y tế phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để giao ma túy.

Đến khoảng 22 giờ ngày 05/6/2022, Tuấn A đến trước cổng trường tiểu học N, thuộc khu phố B, phường T gặp người tài xế G Phạm Nguyễn Xuân T và nhận 01 hộp giấy hình chữ nhật. Tuấn A nói T đứng đợi và mang hộp giấy lại vị trí sau xe mô tô của Tuấn A đang dựng trên vỉa hè (cách vị trí của T khoảng 10m) để kiểm tra và thấy bên trong có áo và 02 gói ma túy đá được bọc trong túi nylon. Tuấn A lấy ma túy bỏ vào nỏ thuỷ tinh gắn ở bình nhựa (bình sử dụng ma túy do Tuấn A mang theo) để hút thử nhưng cảm giác có mùi hôi của dầu hoả, vị nhạt, nên Tuấn A gọi điện thoại cho V để trả lại số ma túy này. V đồng ý và cung cấp địa chỉ nhận lại ma túy tại số F H, phường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Tuấn A bỏ ma túy vào túi nylon màu trắng, lấy từ trong cốp xe mô tô ra tờ giấy lịch và bút ghi nội dung: “Gửi: Quần áo+, Địa chỉ: F H, P. P, Q, TP .” rồi mang lại cho tài xế G thuê vận chuyển gói hàng quần áo về quận G, thành phố Hồ Chí Minh giao cho người tên V theo địa chỉ trên tờ giấy lịch. Thông báo cước vận chuyển là hơn 200.000 đồng, Tuấn A đưa cho T 500.000 đồng để trả công vận chuyển.

Khi đi đến khu vực phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, nghi ngờ gói hàng là ma túy nên anh T đã đến Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai trình báo sự việc, Công an phường T đã lập Biên bản thu giữ, gồm: 02 gói nylon kích thước khoảng (5x7)cm được bịt kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nylon màu vàng bên trong có chứa 02 cái áo; 01 tờ giấy lịch phía mặt sau ghi nội dung “Gửi: Quần áo+, Địa chỉ: F H, P. P, Q, TP .”; 10 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, tổng số tiền 500.000 đồng. Đến ngày 07/6/2022, Tuấn A biết số ma túy gửi cho V đã bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ, sau đó Nguyễn Tuấn A bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh điều tra, giám định chữ viết, lấy lời khai, Nguyễn Tuấn A thừa nhận hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của mình.

Kết luận giám định số 1208/KL-KTHS ngày 10/6/2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ về số ma túy thu giữ, kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 189,239gam, loại: Methamphetamine.”

Kết luận giám định số 1144/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: chữ viết trên tờ giấy lịch “Gửi: Quần áo+, Địa chỉ: F H, P. P, Q, TP .” so với chữ viết trên bản tường trình ngày 08/5/2023 và Bản tự khai ngày 16/5/2023 của Nguyễn Tuấn A (mẫu so sánh) là do cùng một người viết ra.

Tại Bản cáo trạng số 200/CT-VKS-P2 ngày 10/9/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để xét xử bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A mức án 20 (hai mươi) năm tù;
  • - Vị luật sư bào chữa cho bị cáo và bị cáo không có ý kiến về tội danh, nêu lên các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Vào khoảng 22 giờ ngày 05/6/2022, tại khu vực trước cổng trường tiểu học N, khu phố B, T, B, Đồng Nai, Nguyễn Tuấn A đã có hành vi thuê Phạm Nguyễn Xuân T là tài xế G vận chuyển 01 gói hàng bên trong có 189,239 gam ma túy, loại Methamphetamine từ khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến số F H, phường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh với giá vận chuyển là 500.000 đồng.

[3] Về tội danh:

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Tuấn A đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân ti3h Đồng Nai đã viện dẫn.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tuấn A đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cành gia đình bị cáo khó khăn. Những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.Trên cơ sở các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo và áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 16 (mười sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng” (tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo chấp hành chung là 18 (mười tám năm tù”) tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/HSST ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên V là người bán ma túy cho Tuấn A, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[8] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ có thu giữ:

  • - 01 phong bì giấy niêm phong mẫu vật sau giám định, vụ số: 1208/KL-KTHS ngày 10/6/2022; 01 túi nylon màu vàng bên trong có 02 cái áo.
  • - Số tiền 500.000 đồng anh Phạm Nguyễn Xuân T đã giao nộp khi trình báo:
  • - 01 tờ giấy lịch ghi nội dung: “Gửi: Quần áo+, Địa chỉ: F H, P. P, Q, TP .” (lưu vào hồ sơ vụ án);

Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong mẫu vật sau giám định, vụ số: 1208/KL-KTHS ngày 10/6/2022; 01 túi nylon màu vàng bên trong có 02 cái áo.
  • - Giao trả lại cho anh Phạm Nguyễn Xuân Thông S tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng do anh không biết việc bị cáo vận chuyển trái phép chất ma túy;

(Hiện Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai đang quản lý tại Biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 17/10/2024 và Giấy nộp tiền mặt số 27252768 ngày 17/10/2024 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Đ)

[9] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai,bị cáo và người bào chữa cho bị cáo, người tham gia tố tụng khác được Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 20 (hai mươi) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và tổng hợp với hình phạt 16 (mười sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng”. (tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo chấp hành chung là 18 (mười tám năm tù”) tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/HSST ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung là 30 (ba mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2022

2. Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong mẫu vật sau giám định, vụ số: 1208/KL-KTHS ngày 10/6/2022; 01 túi nylon màu vàng bên trong có 02 cái áo.
  • - Giao trả lại cho anh Phạm Nguyễn Xuân T số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng;

(Hiện Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai đang quản lý tại Biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 17/10/2024 và Giấy nộp tiền mặt số 27252768 ngày 17/10/2024 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Đ)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền này là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định đối với người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Đồng Nai;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo – Trại tạm giam B5;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Phương Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 256/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "vận chuyển trái phép chất ma túy"

  • Số bản án: 256/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn A là người nghiện ma túy và không có việc làm ổn định. Khoảng 17 giờ 53 phút ngày 05/6/2022, Tuấn A gọi điện thoại cho Vũ (không rõ nhân thân lai lịch) và đặt mua 02 gói ma túy đá. Vũ đồng ý bán với giá 31.000.000 đồng/01 lạng ma túy đá và yêu cầu chuyển trước một phần tiền mua ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger