|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ ——————— |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 256/2024/DS - ST
Ngày: 18 – 9 – 2024
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Trang.
Các Hội thẩm nhân dân
- Ông Võ Hoàng Vũ.
- Bà Đỗ Thị Lệ Hằng.
Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Cần – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 382/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 599/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 276/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hứa Quốc K, sinh năm 1976 – có mặt.
Địa chỉ: ấp A thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở: 292/8 chợ A, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Từ Trường G, sinh năm 1990 – vắng mặt.
Địa chỉ: 2 khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 06/3/2020 ông có cho ông Từ Trường G vay số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), hai bên có làm giấy mượn tiền ký cùng ngày 06/3/2020; Việc vay mượn không có thời hạn, không lãi suất. Mục đích vay mượn của ông G là để đáo hạn ngân hàng.
Tuy nhiên, từ ngày vay cho đến nay ông Từ Trường G chưa trả số tiền trên như thỏa thuận mặc dù ông đã nhiều lần yêu cầu trả nợ.
Nay ông yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Từ Trường G phải có trách nhiệm trả lại số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) cho ông, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên toà hôm nay:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Từ Trường G phải có trách nhiệm trả lại số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) cho ông, không yêu cầu tính lãi.
Đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả được thẩm tra công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Phía bị đơn ông Từ Trường G đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng là địa chỉ nơi đăng ký thường trú theo đúng nơi ghi trong Giấy mượn tiền ngày 29/02/2020, niêm yết tại UBND phường A và tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhưng bị đơn ông G vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiếp tục xét xử vắng mặt đối với bị đơn là hoàn toàn phù hợp.
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý: Giữa nguyên đơn và bị đơn có giao dịch vay mượn thể hiện bằng văn bản là Giấy mượn tiền ngày 29/02/2020, do bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc. Do vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và do bị đơn đang cư trú tại địa bàn quận N, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện việc nguyên đơn ông Hứa Quốc K và bị đơn ông từ Trường G có giao dịch vay mượn thể hiện bằng “Giấy mượn tiền ngày 29/02/2020” số tiền cho vay là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng). Biên nhận có chữ kỹ xác nhận của bị đơn, hơn nữa trong quá trình toà án giải quyết có tiến hành các thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ cho bị đơn, bị đơn vắng mặt xem như từ bỏ quyền lợi của mình. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng giao dịch vay mượn giữa nguyên đơn và bị đơn là có thật nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số nợ gốc 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) là có căn cứ chấp nhận. Về lãi suất nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nợ gốc phải trả cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật là 150.000.000 đồng, án phí tương ứng: 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Nguyên đơn được nhận lại 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001285 ngày 10/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điềm 468 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hứa Quốc K đối với bị đơn ông Từ Trường G.
Buộc ông Từ Trường G có nghĩa vụ trả cho ông Hứa Quốc K số tiền nợ gốc là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn (ông G) chậm trả tiền thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Từ Trường G phải chịu: 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Nguyên đơn ông Hứa Quốc K được nhận lại 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001285 ngày 10/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Hứa Quốc K được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Từ Trường G vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
- Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ĐỖ THỊ DIỄM TRANG |
Bản án số 256/2024/DS - ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 256/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Kieentj kiện anh Giang
