Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 256/2023/HS-PT

Ngày: 29-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Bảo.
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Văn Phú;
Ông Nguyễn Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ly Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 241/2023/HS-PT ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2023/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 03/10/1971; tại: thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố F, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M (đã chết) và bà Trần Thị T; không có chồng, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang được tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 10/2022, khi đến chợ T2 ở phường A, thành phố T, Nguyễn Thị Thu H gặp và quen biết với bà Nguyễn Thị Y (sinh năm 1963, trú tại: khối phố M, phường H, thành phố T) là tiểu thương bán tạp hoá tại chợ. Khi mua hàng hóa của bà Y, H được bà Y tư vấn mua thuốc giảm cân và lấy số điện thoại, kết bạn qua ứng dụng Zalo để hỗ trợ khi dùng thuốc. Sau đó, giữa H và bà Y thường xuyên liên lạc, nhắn tin, nói chuyện, gặp gỡ và ăn uống chung tại chợ nên H nhận được sự tin tưởng từ bà Y. Do H có mượn tiền của nhiều người nhưng không có tiền trả nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bà Y để trả nợ. Để bà Y tin tưởng, trong quá trình tâm sự, nói chuyện với bà Y, H đã nói dối nhiều vấn đề như: H có 01 thửa đất ở xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam đang rao bán nhưng trên thực tế không có, mục đích là để bà Y tin tưởng cho mượn tiền; H nói với bà Y là có quen biết với một người phụ nữ tên L sống ở Thành phố Hồ Chí Minh thường mua hàng với số lượng lớn để đi từ thiện nhưng trên thực tế không có, mục đích để bà Y tin tưởng và H lấy số hàng đó đi bán lại cho người khác với giá rẻ để lấy tiền sử dụng mục đích cá nhân. Khi bà Y xin số điện thoại của bà L để liên lạc thì H mua một sim rác, gắn vào điện thoại di động hiệu Masstel màu đen dạng bàn phím và cho bà Y số điện thoại này, khi bà Y điện thoại cho nhân vật bà L thì cũng chính H nghe máy, giả giọng nói chuyện với bà Y; H nói với bà Y có quen một người tên S làm ở Cục Hải quan tỉnh Q, có thể đưa các loại hàng hoá bị tịch thu như bia Larue, nước tăng lực bò húc bán ra ngoài thị trường với giá rẻ nhưng trên thực tế không có, mục đích để bà Y tin tưởng tham gia và đưa tiền góp vốn mua lại các loại hàng hoá trên để bà H chiếm đoạt số tiền đó sử dụng vào mục đích cá nhân.

Quá trình từ tháng 10/2022 đến tháng 11/2022, sau khi đã tạo được niềm tin với bà Y, H đã thực hiện hành vi lừa đảo và chiếm đoạt tài sản của bà Y như sau:

  • - Vào ngày 10/10/2022, H sử dụng điện thoại hiệu Oppo màu đỏ (không nhớ số) nhắn tin nói với bà Y là S Hải quan có 200 thùng bia Huda muốn bán ra thị trường với giá là 30.000.000 đồng, H góp 15.000.000 đồng, bà Y góp 15.000.000 đồng để mua lại, nếu bán lại có thể lời được 4.000.000 đồng. Bà Y tin tưởng đồng ý và đưa H số tiền 15.000.000 đồng tại chợ T2. H nhận và chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng của bà Y để sử dụng vào việc trả nợ cho những người khác (trả cho ai, cụ thể bao nhiêu, H không nhớ rõ). Khi bà Y hỏi về việc không thấy nhận được bia thì H nói là bia chưa đưa ra được để tránh né và hứa hẹn với bà Y nhiều lần là khi bia được đưa ra sẽ giao cho bà Y.
  • - Vào ngày 14/10/2022, H nhắn tin cho bà Y để mượn số tiền 35.000.000 đồng với lý do là mua bia giá rẻ của Hải quan và sẽ trả sau một ngày, bà Y đồng ý. Trước khi đến chợ T2 gặp bà Y lấy tiền, H đã viết trước Giấy mượn tiền, trong đó ghi số tiền mượn là 30.000.000 đồng, thời gian cam kết trả là ngày 16/10/2022. Khi H nhận tiền của bà Y tại chợ T2, bà Y đã yêu cầu H viết “Cộng thêm 5.000.000” cho đúng số tiền thực tế mà bà Y đưa cho H mượn. Số tiền trên H sử dụng vào mục đích trả nợ cho những người khác (trả cho ai, cụ thể bao nhiêu, H không nhớ rõ).
  • - Vào ngày 29/10/2022, H điện thoại nói với bà Y là Trung tâm từ thiện của bà L muốn đặt một số lượng hàng hóa lớn để đi từ thiện và sẽ thanh toán sau một tuần. Tuy bà Y chưa được gặp bà L nhưng vì tin tưởng H nên bà Y đồng ý. H nói bà Y danh sách hàng hoá mà bà L muốn mua (thực tế danh sách hàng hóa là do H tự nghĩ ra). Tổng giá trị đơn hàng là 31.460.000 đồng. Sau đó, H yêu cầu bà Y giao hàng hoá bằng cách chở đến quán cà phê N, địa chỉ: Số A T, phường T, thành phố T và nói với nhân viên là gửi hàng cho cô H thì sẽ được nhận. Bà Y tin tưởng nên yêu cầu con trai là Khuất Tiến V chở lô hàng trên đến quán cà phê N giao. Ngày hôm sau, H đến quán cà phê N và điện thoại cho một người phụ nữ tên T1 (không rõ lai lịch) đến để bán lại số hàng hoá trên với số tiền là 28.500.000 đồng. Ngoài ra, khi đồng ý bán đơn hàng trên cho bà L, bà Y có nói với H là bà Y không có đủ tiền nên nhờ H nói bà L trả tiền sớm cho bà Y, H đồng ý. Để tạo sự tin tưởng cho bà Y nên sau khi bán lại số hàng hoá trên cho bà T1, H đến sạp hàng của bà Y trả trước cho bà Y số tiền 18.500.000 đồng. Số tiền còn lại, đến nay H vẫn chưa thanh toán cho bà Y.
  • - Vào ngày 30/10/2022, H gặp và nói với bà Y là cho H mượn 20.000.000 đồng để mua thẻ cào nạp tiền điện thoại V1 về bán. Bà Y tin tưởng và đồng ý cho H mượn số tiền trên (không viết giấy mượn tiền). Số tiền này, H sử dụng vào mục đích trả nợ cho những người khác (trả cho ai, cụ thể bao nhiêu, H không nhớ rõ).
  • - Vào ngày 02/11/2022, H nhắn tin cho bà Y với nội dung là ông S làm ở Cục Hải quan có 500 thùng bia Larue với giá 160.000 đồng/thùng. Chỉ cần giao 50.000.000 đồng thì ông S sẽ giao 100 thùng bia mỗi tuần cho đến khi đủ 500 thùng, tính ra sẽ lãi được 40.000.000 đồng. H sẽ góp 10.000.000 đồng, số tiền còn lại để cho bà Y góp. Bà Y có hỏi H là số bia góp tiền mua lần trước của S đâu thì được H lấy lý do là bên Hải quan đang trục trặc, các sếp đang họp lên chức,... nên chưa thể giao bia ra ngoài được, đợt này sẽ đưa ra cùng 500 thùng bia trên. Ngoài ra, H còn dùng điện thoại lên mạng internet tải hình ảnh các thùng bia xếp chồng trên một bãi đất, gửi cho bà Y xem và nói với bà Y đó là số bia trong kho của Hải quan mà S chuẩn bị đưa ra ngoài bán. Bà Y tin tưởng và đồng ý giao tiền cho H nhiều lần với tổng số tiền là 47.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, H sử dụng để trả nợ cho người khác (trả cho ai, cụ thể bao nhiêu, H không nhớ rõ), phần còn lại Hồng giữ để sử dụng vào sinh hoạt hằng ngày. Đến nay, H vẫn chưa giao bia cho bà Y như đã cam kết và cũng không trả lại tiền cho bà Y.
  • - Vào chiều ngày 02/11/2022, H điện thoại nói với bà Y là Trung tâm từ thiện của bà L tiếp tục đặt một số lượng hàng hóa để đi từ thiện và sẽ thanh toán sau một tuần, cách thức giao hàng hoá như lần trước. Bà Y tin tưởng và đồng ý. Sau đó, H nói cho bà Y danh sách hàng hoá mà bà L muốn mua (thực tế danh sách hàng hóa là do H tự nghĩ ra). Tổng giá trị hàng hoá là 13.020.000 đồng. Ngày hôm sau, H đến quán cà phê N và điện thoại bà T1 đến để bán lại số hàng hoá trên với số tiền là 12.000.000 đồng. Đến nay, H vẫn chưa thanh toán tiền đơn hàng trên cho bà Y.
  • - Tối ngày 02/11/2022, H nói với bà Y là có người muốn nhờ H bốc (vay trả lãi) với lãi suất cao, nếu bà Y có tiền thì đưa cho H để cho họ bốc lấy tiền lãi (trên thực tế không có ai vay trả lãi cao cho H). Bà Y tin tưởng và đưa H số tiền 23.000.000 đồng. Số tiền trên H sử dụng vào mục đích trả nợ cho những người khác (trả cho ai, cụ thể bao nhiêu, H không nhớ rõ), phần còn lại để sử dụng vào sinh hoạt hằng ngày. Đến nay, H vẫn chưa trả cho bà Y số tiền lãi nào và chưa thanh toán số tiền gốc.
  • - Vào ngày 28/10/2022, H đặt mua của bà Y một thùng thuốc nhãn hiệu White horse với giá 11.680.000 đồng. Sau đó, H mang đến chợ T3 để bán lẻ lại cho nhiều tiểu thương trong chợ với giá rẻ, mục đích để thu tiền nhanh (H không nhớ cụ thể là bán cho ai). Số tiền bán thuốc, H sử dụng vào việc trả nợ cho người khác và chưa thanh toán lại cho bà Y.

Tổng cộng, Nguyễn Thị Thu H đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Y tiền và tài sản với tổng giá trị là 177.660.000 đồng.

Qua nhiều lần điện thoại, nhắn tin cho H để hỏi về việc không thấy giao số lượng bia từ Hải quan mà vẫn bị tránh né, hứa hẹn, bà Y nghi ngờ và tìm hiểu thì phát hiện H không có việc làm, nơi ở ổn định và H cũng không có bất kỳ mối quan hệ nào với cán bộ Hải quan cũng như bà L làm ở trung tâm T4. Vì vậy, bà Y đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của H đến cơ quan Công an.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã trả lại cho bà Y số tiền 119.000.000 đồng, còn lại 58.660.000 đồng.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị Thu H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo mức án 15 tháng tù, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới và bị cáo phạm tội nhiều lần thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị Thu H không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Thu H có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.
  3. [3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: do có mối quan hệ quen biết với bà Nguyễn Thị Y, để có tiền tiêu xài và trả nợ cá nhân nên trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 11/2022, bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa thông tin không đúng sự thật nhằm tạo lòng tin đối với bà Y, để bà Y tin tưởng tham gia góp tiền mua các loại hàng hóa, bán hàng hoá cho H và cho H mượn tiền, rồi chiếm đoạt của bà Y tổng cộng số tiền 177.660.000 đồng; số tiền chiếm đoạt của bà Y, bị cáo tiêu xài và trả nợ cho nhiều người khác. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
  4. [4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Thu H, thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 15 tháng tù là có căn cứ pháp luật và không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới và bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, đều là tội phạm nghiêm trọng nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo; hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.
  5. [5] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. [6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2023/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/11/2023).

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - CQTHAHS CA thành phố Tam Kỳ;
  • - CQCSĐT CA thành phố Tam Kỳ;
  • - VKSND thành phố Tam Kỳ;
  • - TAND thành phố Tam Kỳ;
  • - Chi cục THADS thành phố Tam Kỳ;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Q.Nam;
  • - Phòng HSNV Sở Tư pháp Q.Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 256/2023/HS-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 256/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger