|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 2552/2023/KDTM-ST Ngày 05 tháng 12 năm 2023 V/v “Hợp đồng mua bán hàng hóa”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Ngọc Thực
- Bà Phạm Thị Hồng Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh - Kiểm sát viên
Ngày 05/12/2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2023/TLST-KDTM ngày 06/7/2023 về vụ việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5037/2023/QĐXXST-KDTM ngày 31 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 14513/2023/QÐST-KDTM ngày 17/11/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: V
Địa chỉ: H, Q, Old C, P, IM4 1AZ, Isle of M.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Nhất H và bà Nguyễn Thị Ngân H1; Địa chỉ liên hệ: P, Tầng B, Tòa nhà B, số B H, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Cả 02 có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lương Trung Vân N – Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt)
Bị đơn: Công ty Cổ phần K2
Trụ sở: Số nhà B, Tầng E, Khối B, Khu P, số C N, phường T, Quận G, Tp .
Đại diện theo pháp luật: Võ Bình L, sinh năm 1985; Địa chỉ thường trú: Thôn A, Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Việt Nam. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/02/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 09/10/2020, V (sau đây gọi tắt là VHG) và Công ty Cổ phần K2 (viết tắt là Công ty K2) đã ký các Hợp đồng mua bán để mua bán Găng tay Nitrile do Công ty Cổ phần V1 sản xuất. Theo đó, VHG mua của Công ty K2 45.000 thùng Găng tay Nitrile và 25.000 thùng Găng tay Nitrile với giá mua lần lượt là 3.285.000 đô la Mỹ và 1.825.000 đô la Mỹ. Như vậy, VHG mua của Công ty K2 tổng cộng 70.000 thùng (hoặc hộp) Găng tay Nitrile với tổng giá mua là 5.110.000 đô la Mỹ. Theo quy định của Điều 2 về Giá mua trong các hợp đồng mua bán, VHG phải thanh toán ban đầu cho Công ty K2 30% tổng giá mua trên mỗi hợp đồng.
Ngày 20/11/2020, VHG đã thanh toán trước cho Công ty K2 tổng cộng 1.533.000 đô la Mỹ (tương đương với 35.000.000.000 đồng) tiền mua hàng chung cho cả hai hợp đồng. Sau khi VHG thanh toán số tiền 35.000.000.000 đồng, ngày 23/01/2021 Công ty K2 đã giao cho VHG 1.600 hộp Găng tay Nitrile trị giá 116.800 đô la Mỹ (tương đương 2.700.000.000 đồng). Tuy nhiên, sau đó Công ty K2 không tiếp tục giao hàng cho VHG và cam kết hoàn trả lại số tiền VHG đã thanh toán trước cho Công ty K2.
Đến ngày 23/01/2021, Công ty K2 có công văn cam kết gửi VHG với nội dung Công ty K2 sẽ chấm dứt hợp đồng và không tiếp tục giao hàng cho VHG do không muốn tiếp tục bán với giá đã thỏa thuận (tăng giá).
Thực tế, Công ty K2 có hoàn trả cho VHG một phần tiền mà VHG đã thanh toán trước cho Công ty K2. Theo công văn cuối cùng ngày 24/02/2021, Công ty K2 xác nhận đã hoàn trả cho VHG tổng cộng 14.750.000.000 đồng (trong đó bao gồm 2.700.000.000 đồng là số tiền tương ứng với số hàng hóa đã giao và tiền hoàn trả); Công ty K2 xác nhận còn nợ VHG 20.250.000.000 đồng; đồng thời, cam kết thanh toán thành 02 đợt như sau: Thanh toán số tiền 9.000.000.000 đồng vào ngày 04/03/2021 và số tiền 11.250.000.000 vào ngày 16/03/2021.
Tuy nhiên, hiện nay, Công ty K2 vẫn chưa trả tiền 20.250.000.000 đồng như cam kết.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết:
Buộc Công ty K2 có nghĩa vụ phải thanh toán cho VHG số tiền là 20.250.000.000 đồng.
- Tiền lãi do chậm trả tính trên số tiền 20.250.000.000 đồng theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 16%/năm như sau:
- Số tiền 9.000.000.000 đồng hẹn trả vào ngày 04/03/2021 do đó tính lãi chậm trả từ 05/3/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 05/12/2023 là 3.964.931.507 đồng.
- Số tiền 11.250.000.000 hẹn trả vào ngày 16/03/2021 do đó tính lãi chậm trả từ 17/03/2021 đến ngày tòa án xét xử sơ thẩm 05/12/2023 là 4.896.986.301 đồng.
Tổng số tiền lãi là 8.861.917.808 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 29.111.917.808 đồng.
* Bị đơn Công ty K2 đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tòa, không có văn bản trình bày ý kiến.
* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, Công ty K2 đã không thực hiện đúng thỏa thuận, hủy hợp đồng và tăng giá bán nhưng không được nguyên đơn đồng ý. Công ty K2 tự cam kết hoàn trả số tiền đã nhận nhưng không thực hiện đúng. Do các bên không thỏa thuận về việc phạt chậm trả trong hợp đồng nên căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 306 Luật thương mại tính lãi suất trung bình của các ngân hàng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, phiên tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về thẩm quyền:
Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần M1 đăng ký lần đầu ngày 25/01/2019, đăng ký thay đổi lần thứ 6 ngày 06/01/2023 tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện, bị đơn có trụ sở tại Số nhà B, Tầng E, Khối B, Khu P, số C N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Võ Bình L có hộ khẩu thường trú tại Thôn A, Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Việt Nam. Do nguyên đơn- Vannin Healthcare Global L có trụ sở tại H, Q, Old C, P, IM4 1AZ, Isle of M (A) là đương sự ở nước ngoài nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 30, Khoản 3 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Theo kết quả xác minh do Công an Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cung cấp thì ông L có hộ khẩu thường trú tại Thôn A, Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Hiện nay công dân không có mặt tại địa phương, đang tạm trú tại Thôn S, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Theo kết quả xác minh do Công an xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên cung cấp thì ông L có đăng ký tạm trú tại Thôn S, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên vào tháng 6 năm 2022 nhưng thực tế không cư trú tại địa phương.
Để bảo đảm ông L nhận được thông tin về vụ kiện do VHG nộp đơn, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (Đ (VTV9) vào các ngày 18, 19, 20/10/2023 và B các số báo 291, 292 và 293 các ngày ngày 18, 19 và 20/10/2023) đồng thời niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty Cổ phần K2 nhưng bị đơn không đến Tòa án, không trình bày ý kiến, nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hoà giải, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ như: 02 Thỏa thuận các điều khoản cung cấp và giao hàng ngày 09/10/2020; Thông tin chuyển khoản đi; các cam kết ngày 23/01/2021; 01/02/2021; 24/02/2021 do nguyên đơn cung cấp đủ cơ sở xác định nguyên đơn có thỏa thuận với bị đơn để mua găng tay y tế.
Thời điểm các bên ký kết hợp đồng, Công ty K2, do ông Võ Bình L là người đại diện theo pháp luật. Việc ông L ký kết các Thỏa thuận các điều khoản cung cấp và giao hàng ngày 09/10/2020 là hoàn toàn hợp pháp. Theo kết quả xác minh của Công an phường T, Quận G thì tại địa chỉ B5.24, Tầng E, Khối B, Khu P, số C N, phường T, Quận G có Công ty K2 đặt văn phòng hoạt động. Tòa đã niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không đến, không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp chứng cứ nên phải chịu trách nhiệm theo quy định tại Khoản 5, 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử xét thấy 02 Thỏa thuận các điều khoản cung cấp và giao hàng ngày 09/10/2020 giữa Công ty K2 với VHG là giao dịch dân sự “Hợp đồng mua bán”, giữa hai bên nguyên đơn và bị đơn đã đáp ứng đủ các quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 do vậy giao dịch dân sự phát sinh hiệu lực.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 23/01/2021, Công ty K2 đã giao cho VHG 1.600 thùng Găng tay Nitrile trị giá 116.800 đô la Mỹ (tương đương 2.700.000.000 đồng). Tuy nhiên, sau đó Công ty K2 không tiếp tục giao hàng cho VHG. Công ty K2 tăng giá găng tay nên không tiếp tục thực hiện hợp đồng (Văn bản cam kết ngày 23/01/2021). Công ty K2 xác nhận số tiền còn nợ nguyên đơn là 20.250.000.000 đồng nhưng không tiếp tục trả nên xảy ra tranh chấp.
* Xét yêu cầu của VHG buộc Công ty K2 có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền 20.250.000.000 đồng:
Quá trình thực hiện hợp đồng, VHG đã chuyển tiền 30% giá trị 02 Thỏa thuận các điều khoản cung cấp và giao hàng ngày 09/10/2020 (1.533.000 USD quy đổi ra tiền Việt Nam là 35.000.000.000 đồng) bằng lệnh chuyển tiền qua Ngân hàng Thương mại Cổ phần T cho Công ty K2; Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005 thì: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”. Do đó, trong trường hợp này, VHG đã giao tiền cho Công ty K2 nhưng sau đó Công ty K2 chỉ thực hiện một phần Thỏa thuận các điều khoản cung cấp và giao hàng ngày 09/10/2020 rồi tự ý không thực hiện thỏa thuận nên Công ty K2 phải có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại cho VHG theo quy định tại Khoản 2 Điều 314 Luật Thương mại.
Xét Công văn cam kết ngày 24/02/2021 do Công ty K2 ban hành đã xác nhận:
“Tổng tiền cọc quy đổi VNĐ: 35.000.000.000 đồng
Số tiền đã hoàn trả bao gồm tiền mặt và hàng 12.450.000.000 đồng
Ngày 23/01/2021 trả 1.000.000.000 đồng
Ngày 30/01/2021 trả 1.000.000.000 đồng
Ngày 05/02/2021 trả 300.000.000 đồng
Số tiền còn phải hoàn trả tạm tính: 20.250.000.000 đồng...”
Tại tòa đại diện VHG trình bày mặc dù VHG thực tế chưa nhận đủ số tiền như Công ty K2 xác nhận trong văn bản ngày 24/02/2021 vì bà K nhận tiền nhưng chưa giao lại cho VHG nhưng đây là quan hệ riêng giữa VHG và bà K, không yêu cầu tòa án giải quyết, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết ở hồ sơ khác.
Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ kiện này Công ty K2 xác nhận còn nợ VHG số tiền 20.250.000.000 đồng, VHG chấp nhận theo số liệu của Công ty K2 và từ sau ngày 05/02/2021 đến nay Công ty K2 không trả thêm khoản nào nên Công ty K2 có nghĩa vụ trả cho VHG số tiền gốc còn lại 20.250.000.000 đồng như nguyên đơn yêu cầu là có cơ sở. Tranh chấp giữa nguyên đơn và bà Nguyễn Bảo K1 nếu có sẽ giải quyết ở hồ sơ khác.
* Xét yêu cầu đòi tiền lãi tính trên số tiền chậm trả 20.250.000.000 đồng theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 16%/năm:
Hội đồng xét xử xét thấy: Công văn cam kết ngày 24/02/2021 do Công ty K2 ban hành có nội dung:
Đợt 1 hẹn trả vào ngày 04/03/2021 số tiền 9.000.000.000 đồng nhưng không trả do đó nguyên đơn tính lãi từ 05/3/2021 đến ngày tòa án xét xử sơ thẩm 05/12/2023 là 3.964.931.507 đồng.
Đợt 2 hẹn trả vào ngày 16/03/2021 số tiền 11.250.000.000 đồng nhưng không trả do đó nguyên đơn tính lãi từ 17/3/2021 đến ngày tòa án xét xử sơ thẩm 05/12/2023 là 4.896.986.301 đồng.
Do trong Thỏa thuận các điều khoản cung cấp và giao hàng ngày 09/10.2020 và các Công văn cam kết các bên không thỏa thuận về lãi do chậm thanh toán, do đó, đến ngày trả tiền mà bị đơn không trả thì bị đơn phải chịu tiền lãi do chậm thanh toán theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.
Căn cứ Công văn số 6356/CNTPHCM-TH ngày 10/11/2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn là 12,5%/năm. Lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn (tức 18,75%/năm).
Căn cứ Công văn số 957/NHNo.PMH ngày 09/11/2023 của Ngân hàng N1 lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn là 9,0%/năm. Lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn (tức 13,5%/năm).
Căn cứ Công văn số 12395/HCM-TH ngày 13/11/2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn là 10,5%/năm. Lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn (tức 15,75%/năm).
Vậy lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 ngân hàng trên là 16%/năm. Nguyên đơn tính tổng số tiền lãi do chậm thanh toán là 8.861.917.808 đồng là đúng quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vậy tổng số tiền gốc và lãi do chậm thanh toán bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 29.111.917.808 đồng.
[4] Xét thời gian trả: Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả một lần kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại.
[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do Công ty K2 có nghĩa vụ trả tiền nên Công ty K2 có nghĩa vụ nộp án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch trên số tiền phải trả theo quy định.
Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: để bảo đảm thủ tục tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn, đại diện nguyên đơn có đề nghị tòa án Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do đó nguyên đơn sẽ phải chịu chi phí này theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 30; Khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 147; Khoản 2, Điều 180, Điều 227; Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự ;
- Căn cứ các Điều 3; Điều 306; Điều 314 Luật Thương mại năm 2005;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn V.
- Buộc bị đơn Công ty Cổ phần K2 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Vannin Healthcare G Limited số tiền 29.111.917.808 đồng (Hai mươi chín tỷ một trăm mười một triệu chín trăm mười bảy nghìn tám trăm lẻ tám đồng) bao gồm tiền gốc 20.250.000.000 đồng (Hai mươi tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng), tiền lãi do chậm thanh toán 8.861.917.808 đồng (Tám tỷ tám trăm sáu mươi mốt triệu chín trăm mười bảy nghìn tám trăm lẻ tám đồng), trả một lần kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Cổ phần K2 phải chịu 137.111.918 đồng (Một trăm ba mươi bảy triệu một trăm mười một nghìn chín trăm mười tám đồng).
V không phải chịu án phí. H2 lại Vannin Healthcare G1 Limited số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 66.095.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0001704 ngày 04/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) V phải chịu, Vannin Healthcare G đã nộp đủ.
- Quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng Công ty Cổ phần K2 vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Thảo |
Bản án số 2552/2023/KDTM-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 2552/2023/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền mua găng tay
