Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2024/HS-ST

Ngày: 30-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Thanh Nhàn;

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 263/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Đoàn Văn K, sinh năm: 1984 tại tỉnh Cà Mau; đăng ký thường trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Ngọc Đ, sinh năm: 1954 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1958; bị cáo có vợ tên Nguyễn Anh K1, sinh năm: 1988 và 02 con, lớn nhất sinh năm: 2010, nhỏ nhất sinh năm: 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/12/2023 cho đến nay – bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1961; đăng ký thường trú: Ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • - Bà Huỳnh Thị Tuyết N1, sinh năm: 1981; đăng ký thường trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (là con ruột của bị hại);
  • - Bà Huỳnh Tuyết K2, sinh năm: 1983; đăng ký thường trú: Xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (là con ruột của bị hại);
  • - Bà Huỳnh Thùy D, sinh năm: 1985; đăng ký thường trú: Ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (là con ruột của bị hại);
  • - Ông Nguyễn Công C, sinh năm 1995; đăng ký thường trú: Ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (là con ruột của bị hại).

Bà N1, bà K2, bà D ủy quyền cho ông Nguyễn Công C tham gia tố tụng (Giấy ủy quyền ngày 15/8/2023).

Bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Hữu T - Chủ Doanh nghiệp tư nhân X; địa chỉ trụ sở: Số D, đường L, khóm B, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau – vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Trương Tấn L, sinh ngày 28/7/2007; đăng ký thường trú: Ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre; đăng ký tạm trú: Nhà trọ Ú, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu L:

  • - Bà Huỳnh Thị D1, sinh năm: 1985; đăng ký thường trú: 278/54, ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (là mẹ ruột của cháu L) – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt;
  • - Ông Trương Văn C1, sinh năm: 1983; đăng ký thường trú: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (là cha ruột của cháu L) – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Văn K có giấy phép lái xe hạng E do Sở Giao thông vận tải tỉnh C cấp ngày 26/11/2020, có giá trị đến ngày 26/11/2025. Khá làm nghề lái xe thuê cho Doanh nghiệp tư nhân X.

Tối ngày 06/8/2023, K điều khiển xe ô tô khách biển số: 69B-004.50 đi từ bến xe M, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương đến các tuyến đường trong khu công nghiệp M để đón khách chở đến tỉnh Cà Mau. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường TC1 theo hướng từ đường N đến đường G, đến ngã tư giao nhau với đường N thuộc khu phố F, phường T, K điều khiển xe chạy không giảm tốc độ và không chú ý quan sát nên xe ô tô khách biển số: 69B-004.50 va chạm vào mặt bên phải đuôi xe mô tô hiệu Avarice, biển số: 61N6-0459 do Trương Tấn L điều khiển chở bà Nguyễn Thị H (là bà ngoại của L) ngồi sau, chạy trên đường N theo hướng từ đường D17 đến đường VĐ4 đến, gây tai nạn giao thông. Tai nạn xảy ra làm bà H tử vong tại hiện trường, còn L không bị thương tích gì. Sau khi gây tai nạn giao thông, K đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B (nay là thành phố B) đầu thú.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 xe ô tô khách biển số: 69B-004.50;
  • - 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: EA1596622;
  • - 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Đoàn Văn K;
  • - 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 69003720;
  • - 01 Giấy phép lái xe hạng E số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh C cấp ngày 26/11/2020, có giá trị đến ngày 26/11/2025 mang tên Đoàn Văn K;
  • - 01 xe mô tô hiệu Avarice, biển số: 61N6-0459;
  • - 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 0036044.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 06/8/2023: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là giao lộ giao nhau giữa đường TC1 với đường N. Mặt đường trải nhựa phẳng, khô, tầm nhìn lái xe không bị che khuất. Chiều rộng cả mặt đường TC1 là 25m, chiều rộng nửa mặt đường là 12,5m, được chia ba làn đường, làn đường sát lề phải rộng 4,6m, làn đường giữa rộng 3,9m. Chiều rộng cả mặt đường N6 là 14m, chiều rộng nửa mặt đường là 7m, được chia hai làn đường, làn đường sát lề phải rộng 3,3m.

- Lấy mép đường bên phải đường TC1 theo chiều hướng xe lưu thông từ đường N7 đến đường G làm mép đường chuẩn.

- Vết phanh lốp sau trục trái xe ô tô khách biển số: 69B-004.50 để lại ở hiện trường có vạch màu đen liền đôi, thẳng, có hướng từ đường N đến đường G. Điểm đầu vết phanh cách lề chuẩn là 10,6m, cách lề chuẩn N6 là 0,6m. Điểm cuối vết phanh nằm dưới lốp trục sau bên trái, vết phanh có kích thước là 4,4mx0,5m.

- Xe ô tô khách biển số: 69B-004.50, đỗ trong khu vực ngã tư, đầu xe hướng về đường G3, đuôi xe hướng về đường N, nằm song song với mép đường. Hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải cách lề chuẩn là 7,2m, cách trục bánh trước xe mô tô biển số: 61N6-0459 là 2,2m, hình chiếu tâm trục bánh sau bên phải cách lề chuẩn là 7,3m, cách đầu vết cày xe mô tô biển số: 61N6-0459 là 2,8m.

- Vết cày xe mô tô biển số: 61N6-0459 để lại trong khu vực ngã tư, nằm dưới gầm xe ô tô khách biển số: 69B-004.50. Vết cày có dạng các đường thẳng song song với mép đường có hướng từ đường N đến đường G. Đầu vết cày cách lề chuẩn là 8,2m, cách đầu vết phanh sau bên trái xe ô tô khách biển số: 69B-004.50 là 7m. Điểm cuối vết cày trùng với gác chân, cần đạp số bên trái xe mô tô biển số: 61N6-0459, vết cày có kích thước là 6mx0,55m.

- Xe mô tô biển số: 61N6-0459 ngã bên trái nằm phía trước đầu xe ô tô khách biển số: 69B-004.50. Đầu xe hướng vào lề phải, đuôi xe hướng vào lề trái vuông góc với mép đường. Trục trước xe mô tô biển số: 61N6-0459 cách lề chuẩn là 7,1m, cách đỉnh đầu nạn nhân Nguyễn Thị H là 5,1m. Trục sau xe mô tô biển số: 61N6-0459 cách lề chuẩn là 8,3m, cách hình chiếu trục trước bên trái xe ô tô biển số: 69B-004.50 là 2,9m.

- Nạn nhân Nguyễn Thị H tử vong tại hiện trường trong tư thế nằm ngửa, hai chân nạn nhân duỗi thẳng. Đầu nạn nhân hướng vào lề phải, chân hướng vào lề trái, vuông góc với mép đường. Đỉnh đầu nạn nhân cách lề chuẩn là 6,2m. Khoảng giữa hai chân nạn nhân cách lề chuẩn là 7m.

Theo biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 06/8/2023:

* Dấu vết trên xe mô tô hiệu Avarice biển số: 61N6-0459 sau va chạm:

  • - Bể mủ ốp ống phuộc trước bên phải có kích thước là 0,2mx0,13m;
  • - Vết gãy, xước kim loại đùm trục trước thắng đĩa mặt ngoài có kích thước là 0,1mx0,08m;
  • - Vết xước, cong cần đạp thắng phải mặt ngoài qua trái có kích thước là 0,2mx0,05m;
  • - Bể lốc máy bên phải có kích thước là 0,2mx0,17m;
  • - Vết gãy, xước cần đạp máy ra khỏi thân xe còn dính mùn sơn màu xanh có kích thước là 0,21mx0,03m;
  • - Xước sắt xi, mủ ốp cao su gác chân trước bên phải còn dính mùn sơn màu xanh có kích thước là 0,12mx0,05m;
  • - Gãy rời gác chân sau ra khỏi xe kích thước là 0,16mx0,05m, còn dính mùn sơn màu xanh;
  • - Xước, cong sắt xi giảm xốc (ống phuộc) sau bên phải qua phải còn dính mùn sơn màu xanh có kích thước là 0,22mx0,05m;
  • - Bể mủ ốp hông bên phải còn dính mùn sơn màu xanh có kích thước là 0,1mx0,13m;
  • - Xước lốp, niềng sau mặt ngoài bên phải còn dính mùn sơn màu xanh có kích thước là 0,2mx0,06m;
  • - Bể cụm đèn chiếu sáng đồng hồ Km/h, kính chiếu hậu bên trái, mòn cong cần đạp số vào trong lốc máy;
  • - Gãy rời gác chân trước trái khỏi thân xe;
  • - Móp giỏ đựng đồ phía trước bên trái;
  • - Cong tay cầm xuống đất;
  • - Bể mủ nhựa ốp hông trái;
  • - Bể cụm đèn stop xi nhan phía sau;
  • - Các cụm chi tiết hệ thống lái, phanh, đèn, còi, đồng hồ Km/h đầy đủ, lắp đúng vị trí.

* Dấu vết trên xe ô tô khách biển số: 69B-004.50 sau va chạm:

  • - Vết xước cánh cản trước còn dính vết màu đen, vết nhớt có kích thước là 1,9mx0,55m;
  • - Vết mất bụi viền inox phía trước đầu xe có kích thước là 0,2mx0,03m;
  • - Vết mất bụi xước mũ niềng inox phía trước đầu xe mặt ngoài có kích thước là 0,3mx0,01m;
  • - Vết trượt mủ nhựa kính chắn gió phía trước đầu xe kích thước 0,5mx0,02m;
  • - Vết xước góc cản trước trái mất sơn kích thước 0,07mx0,09m.

Theo Bản kết luận giám định tử thi số: 639/KLGĐTT-PC09 ngày 11/8/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị H do đa chấn thương.

Theo kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Đoàn Văn K (lấy mẫu lúc 22 giờ 55 phút ngày 06/8/2023 tại Bệnh viện Đ1) là 0,0 mmol/L.

Theo kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Trương Tấn L (lấy mẫu lúc 00 giờ 02 phút ngày 07/8/2023 tại Bệnh viện Đ1) là 0,0 mmol/L.

Quá trình điều tra, Đoàn Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của K phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Đoàn Văn K và người đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp tư nhân X đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thị H số tiền 150.000.000 đồng. Anh Nguyễn Công C là đại diện hợp pháp của gia đình nạn nhân Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đoàn Văn K.

+ Đoàn Văn K đã tự nguyện bồi thường cho Trương Tấn L số tiền 20.000.000 đồng. Trương Tấn L không yêu cầu gì thêm.

- Về vật chứng: Ngày 23/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B giao trả: 01 xe ô tô khách biển số: 69B-004.50, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: EA1596622 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 003720 cho người đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp tư nhân X; 01 xe mô tô hiệu Avarice biển số: 61N6-0459 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 0036044 cho anh Nguyễn Công C; 01 căn cước công dân số [...] cho Đoàn Văn K.

Cáo trạng số 267/CT-VKS-BC ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đoàn Văn K về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như nội dung Cáo trạng nêu trên và không có ý kiến gì khác.

Tại phần tranh luận:

1. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội:

  • - Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tại Cáo trạng số 267/CT-VKS-BC ngày 16/9/2024 đối với bị cáo Đoàn Văn K: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Đoàn Văn K từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 03 năm 04 tháng đến 04 năm.
  • - Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
  • - Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tuyên trả 01 Giấy phép lái xe hạng E số [...] cho Đoàn Văn K;

2. Bị cáo Đoàn Văn K không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo Đoàn Văn K: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Đoàn Văn K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:

Đoàn Văn K điều khiển xe ô tô khách biển số 69B-004.50 chạy trên đường TC1 theo hướng từ đường N7 đến đường G không giảm tốc độ khi vào giao lộ, không chú ý quan sát dẫn đến va chạm vào bên phải đuôi xe mô tô hiệu Avarice biển số: 61N6-0459 do Trương Tấn L điều khiển chở theo bà Nguyễn Thị H đang chạy trên đường N6 theo hướng từ đường D đến đường VĐ4 làm bà H tử vong là vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 24 Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là xe ô tô vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông làm cho bị hại Nguyễn Thị H tử vong do bị cáo Đoàn Văn K thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng số 267/CT-VKS-BC ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, thể hiện sự xem thường pháp luật, không những gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông mà còn xâm hại trực tiếp đến tính mạng của người khác và ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc điều khiển phương tiện giao thông không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn là nguy hiểm nhưng vẫn cố ý thực hiện dẫn đến tai nạn làm bị hại tử vong. Do đó đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3.2] Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật định là: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; bị cáo là lao động chính trong gia đình; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Xét bị cáo Đoàn Văn K có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo có đủ điều kiện cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022) cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục.

[5] Lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra cũng như nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng nên có cơ sở chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tại phiên tòa bị cáo trình bày ngoài công việc lái xe để có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình thì bị cáo không có nghề nghiệp, việc làm gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo, tạo điều kiện về công việc để ổn định cuộc sống cho bị cáo và các thành viên trong gia đình hiện đang sống phụ thuộc vào bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của chủ Doanh nghiệp tư nhân X đã liên đới bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Công C số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), ông C không có yêu cầu gì thêm nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết. Trường hợp chủ Doanh nghiệp tư nhân X có yêu cầu bị cáo Đoàn Văn K hoàn trả lại một phần khoản tiền bồi thường thì sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[8] Về vật chứng:

  • - Ngày 23/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương xử lý vật chứng giao trả xe ô tô khách biển số: 69B-004.50, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: EA1596622 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 003720 cho người đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp tư nhân X; 01 xe mô tô hiệu Avarice biển số: 61N6- 0459 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 0036044 cho anh Nguyễn Công C; 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Đoàn Văn K cho Đoàn Văn K là phù hợp.
  • - Đối với giấy phép lái xe hạng A1, hạng E số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh C cấp ngày 26/11/2020 cho bị cáo K: Xét nên trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Điều 106; điểm d khoản 1 Điều 125, Điều 136, Điều 260, Điều 299, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn K 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đoàn Văn K cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp Đoàn Văn K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của Bản án mới theo quy định.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 115 /2024/HSST-LCCT ngày 25/9/2024 đối với bị cáo Đoàn Văn K kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Đoàn Văn K 01 (một) Giấy phép lái xe hạng E, số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh C cấp ngày 26/11/2020.

(Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/9/2024).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đoàn Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố B;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS T.P B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 255/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đoàn K phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger