Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: .../2024/DS-PT

Ngày: 25/4/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy.

Các Thẩm phán: Bà Lâm Ngọc Tuyền;

Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thắm- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 443/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 35/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  • + Nguyễn Văn O, sinh năm 1952;
  • + Nguyễn Thị H, sinh năm 1955;

Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Nguyễn Văn M, sinh năm 1957;

Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Lê Thị H1, sinh năm 1961;
  • + Nguyễn Thị T, sinh năm 1980;
  • + Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1984;
  • + Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1987;
  • + Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1989;
  • + Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1992;

Cùng địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  • + Nguyễn Thị D1, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Số A, T, T, TP ., tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của Lê Thị H1, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị Kim T1, Nguyễn Thị T, Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Hoàng S, Nguyễn Hoàng P: Trần Thanh H2, sinh năm 1963;

Địa chỉ: số A đường số A, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 19/02/2024 và ngày 28/02/2024).

  • + Đỗ Tấn D2, sinh năm 1976;
  • + Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1985;

Cùng địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Người kháng cáo: bị đơn Nguyễn Văn M.

(Đương sự Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn O, Nguyễn Văn M, Trần Thanh H2 có mặt; Nguyễn Thị Cẩm N, Đỗ Tấn D2 có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm;

* Nguyên đơn ông Nguyễn Văn O và bà Nguyễn Thị H trình bày:

Vào năm 2006 ông Nguyễn Văn M có làm giấy tay chuyển nhượng cho vợ chồng ông O và bà H diện tích đất 3.044m² thuộc một phần thửa đất số 905, diện tích 4737m², địa chỉ thửa đất ở ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang với số tiền chuyển nhượng là 91.320.000 đồng. Sau đó ông M tiếp tục chuyển nhượng cho ông O, bà H 722m² thuộc một phần thửa đất số 905, diện tích 4737m² với số tiền 10.830.000 đồng. Theo sơ đồ đo đạc thực tế 02 lần chuyển nhượng có diện tích sử dụng là 3.366,6m².

Sau khi nhận chuyển nhượng ông M giao đất cho ông O và bà H sử dụng đất từ đó đến nay, bà H, ông O trồng dừa, làm chuồng gà, chuồng heo, hầm biôga và cho con gái ông bà là chị Nguyễn Thị Cẩm N cất nhà ở trên một phần diện tích đất là 64m². Do lúc chuyển nhượng đất ông M đang vay Ngân hàng, hứa hẹn với các nguyên đơn sau khi trả nợ Ngân hàng xong lập thủ tục chuyển nhượng đất. Tuy nhiên, ông M cứ hẹn hết lần này đến lần khác không lập thủ tục chuyển nhượng đất cho nguyên đơn. Nay nguyên đơn yêu cầu ông M và hộ ông M có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phần đất tranh chấp cho nguyên đơn.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:

Ông và bà H là chị em ruột, vào năm 2006 do con ông bệnh nặng, bệnh tim nên ông có thế chấp diện tích đất vườn 3766m² cho ông O, bà H với số tiền là 102.150.000 đồng.

Đây là phần đất của gia đình có 08 thành viên gồm vợ chồng ông và 06 đứa con là Nguyễn Thị T, Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Hoàng S, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thị Kim T1, Nguyễn Thị Diễm . Từ năm 2006 đến nay gia đình bà H canh tác toàn bộ thửa đất trên, hưởng huê lợi từ 90 cây dừa ông đã trồng sẵn. Năm 2016 con bà H là Nguyễn Thị Cẩm N cất nhà ở trên đất. Thời gian gần đây gia đình bà H yêu cầu ông chuộc lại đất nhưng đưa ra giá quá cao, nên không đồng ý chuộc. Nay ông yêu cầu được chuộc lại giá 130.000.000đồng/1000 m² đất cho bà H và bà H trả lại đất cho ông. Ông hoàn trả giá trị căn nhà cho cháu N. Trường hợp nếu làm thủ tục cho bà H, ông O thì ông yêu cầu ông O và bà H trả thêm 300.000.000 đồng nữa ông mới đồng ý. Ông không yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng hay tuyên vô hiệu hợp đồng và cũng không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu hay hủy hợp đồng.

Người liên quan hộ ông M có cùng ý kiến ông M và có đơn xin vắng mặt. Chị Nguyễn Thị Cẩm N, anh Đỗ Tấn D2 có cùng ý kiến ông O, bà H, xin vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm;

Bà H, ông O yêu cầu ông M tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên. Ông, bà đồng ý hỗ trợ thêm ông M 50.000.000 đồng. Ông M vắng mặt không có lý do.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 443/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 129, Điều 500, 502, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Căn cứ các Điều 203 Luật đất đai; Án lệ số 04/2016 được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 06/4/2016 theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối Cao; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn O và bà Nguyễn Thị H.
  2. Công nhận phần đất diện tích đất 3.366,6m² thuộc một phần thửa đất số 905, diện tích 4737m², địa chỉ thửa đất: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhân quyền sử dụng đất số 01873/Q1.DSDÐ/1397/QĐUB ngày 30/7/1997 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn M thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn O và bà Nguyễn Thị H (vị trí, tứ cận phần đất có sơ đồ kèm theo).
  3. Bà H, ông O có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được công nhận.
  4. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H, ông O hỗ trợ thêm cho hộ ông M số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự, quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định pháp luật.

* Ngày 08/11/2023, bị đơn Nguyễn Văn M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 443/2023/DSST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 15/11/2006, ông M đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền 102.150.000 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày kết thúc việc thi hành án.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 443/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục kháng cáo: bị đơn Nguyễn Văn M nộp đơn kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung xét kháng cáo:

Theo hồ sơ vụ án: Phần đất tranh chấp có diện tích thực đo 3.366,67m² thuộc thửa đất số 905, tờ bản đồ TNC tại ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Hộ ông Nguyễn Văn M có quyền sử dụng thửa đất thửa đất số 905, tờ bản đồ TNC tại ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang, được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01873/QSDĐ/1397/QĐUB ngày 30/7/1997 (gọi tắt là thửa đất số 905). Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ ông Nguyễn Văn M ghi nhận các thành viên gồm: Nguyễn Văn M, Lê Thị H1, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị Kim T1, Nguyễn Hoàng S, Nguyễn Hoàng P.

Năm 2006, ông Nguyễn Văn M chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn O một phần thửa đất số 905 để lấy tiền chữa bệnh cho con, cụ thể 02 lần như sau: Lần 1, chuyển nhượng diện tích 3.044m² với giá 91.320.000 đồng; lần 2, chuyển nhượng 722m² với giá 10.830.000 đồng (15.000 đồng/m²). Ông Nguyễn Văn M đã nhận đủ tiền và giao cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn O quản lý, sử dụng đất từ năm 2006. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn O xây dựng nhà ở và các công trình phụ. Năm 2016, giao cho con là Nguyễn Thị Cẩm N quản lý, sử dụng.

Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang thì trên đất tranh chấp có các tài sản do bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn O và chị Nguyễn Thị Cẩm N xây dựng gồm: 01 căn nhà loại bán kiên cố A2 có diện tích 64m², 01 chuồng gà có diện tích 23,4m², 01 chuồng gà có diện tích 64,4m², 01 chuồng heo có diện tích 45,5m², 01 hồ nước có thể tích 14,16m³, 01 hầm biogas có thể tích 6,28m³.

Ông Nguyễn Văn M cho rằng thửa đất số 905 cấp cho hộ gia đình nhưng chỉ một mình ông chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn O là không đúng pháp luật, thuộc trường hợp vô hiệu.

Năm 2017, bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn O chấp nhận cho ông Nguyễn Văn M chuộc lại với giá 150.000.000 đồng/1000m², và mua lại căn nhà giá 200.000.000 đồng, nhưng ông Nguyễn Văn M không chấp nhận vì cho rằng giá cao.

Ông Nguyễn Văn M thừa nhận mục đích chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn O là nhằm để lấy tiền chữa bệnh cho con, đồng thời các thành viên hộ gia đình ông Nguyễn Văn M cư trú gần thửa đất số 905 biết rõ việc ông Nguyễn Văn M giao bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn O xây dựng nhà và công trình phụ từ năm 2006 và cho chị Nguyễn Thị Cẩm N ở ổn định mà không có ý kiến phản đối và thống nhất cùng sử dụng số tiền chuyển nhượng có được để chữa bệnh cho thành viên trong hộ.

Từ những tình tiết nêu trên cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các thành viên hộ gia đình ông Nguyễn Văn M đồng ý việc chuyển nhượng đất là đúng với tình huống pháp lý theo Án lệ số 04/2016 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 06/4/2016.

Giao dịch chuyển nhượng đất giữa hộ ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn O xác lập từ năm 2006, hai bên đã giao nhận tiền và đất nhưng chưa tiến hành thủ tục chuyển quyền theo quy định nên đây là giao dịch đang được thực hiện. Về hình thức và nội dung phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định pháp luật áp dụng là Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, tuy tại thời điểm giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng bên bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn O (bên nhận chuyển nhượng) đã thực hiện giao cho ông Nguyễn Văn M (bên chuyển nhượng) đủ số tiền chuyển nhượng, phía ông Nguyễn Văn M đã giao đất cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn O là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch được công nhận hiệu lực.

Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự công nhận hiệu lực của hợp đồng là đúng pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M.

[3]. Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4]. Về án phí: Ông Nguyễn Văn M là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông.

[5]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 129, Điều 688 Bộ luật Dân sự; Điều 166 và Điều 203 Luật Đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 443/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn O. Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/11/2006 giữa bên chuyển nhượng hộ ông Nguyễn Văn M với bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn O đối với diện tích đất 3.366,6m² thuộc thửa đất số 905, tờ bản đồ T.N.C tại ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  4. Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn O được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
  5. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn O hỗ trợ thêm cho hộ ông Nguyễn Văn M số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
  6. Kề từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả tiền thì phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn M.

4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - TAND huyện Chợ Gạo;
  • - CCTHADS huyện Chợ Gạo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số .../2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: .../2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào năm 2006 ông Nguyễn Văn M có làm giấy tay chuyển nhượng cho vợ chồng ông O và bà H diện tích đất 3.044m2 thuộc một phần thửa đất số 905, diện tích 4737m2, địa chỉ thửa đất ở ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang với số tiền chuyển nhượng là 91.320.000 đồng. Sau đó ông M tiếp tục chuyển nhượng cho ông O, bà H 722m2 thuộc một phần thửa đất số 905, diện tích 4737m2 với số tiền 10.830.000 đồng. Theo sơ đồ đo đạc thực tế 02 lần chuyển nhượng có diện tích sử dụng là 3.366,6m2. Sau khi nhận chuyển nhượng ông M giao đất cho ông O và bà H sử dụng đất từ đó đến nay, bà H, ông O trồng dừa, làm chuồng gà, chuồng heo, hầm biôga và cho con gái ông bà là chị Nguyễn Thị Cẩm N cất nhà ở trên một phần diện tích đất là 64m2. Do lúc chuyển nhượng đất ông M đang vay Ngân hàng, hứa hẹn với các nguyên đơn sau khi trả nợ Ngân hàng xong lập thủ tục chuyển nhượng đất. Tuy nhiên, ông M cứ hẹn hết lần này đến lần khác không lập thủ tục chuyển nhượng đất cho nguyên đơn. Nay nguyên đơn yêu cầu ông M và hộ ông M có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phần đất tranh chấp cho nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger