TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 255/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-4-2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Phương
Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu là thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phú Tân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:
Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 432a/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1999 nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1999 nơi cư trú: Số C, tổ G, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 10 năm 2023 và lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Sau thời gian tìm hiểu, chị và anh T thành vợ chồng có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 10/2023 ngày 27/01/2023. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 02 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên cải nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Chị yêu cầu được ly hôn ông T.
Chị và anh T có 01 con chung Nguyễn Thảo Kim N1, sinh năm 2018 anh T đang nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được quyền nuôi cháu N1, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Chị và anh T không có tài sản chung, nợ chung.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt là vi phạm Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, cho chị N được ly hôn với anh T. Chị N và anh T có 01 con chung Nguyễn Thảo Kim N1, sinh năm 2018 anh T đang nuôi dưỡng nên giao cháu N1 cho anh T được tiếp tục nuôi con chung; anh T không yêu cầu nên không buộc chị N phải cấp dưỡng nuôi con. Chị N trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn không có mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị N và anh T tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 10/2023 ngày 27/01/2023 là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Chị N cho rằng vợ chồng thường xuyên cải nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ly thân từ tháng 02 năm 2023 đến nay. Qua xác minh địa phương thì được biết anh T cư trú tại xã P nhưng đi làm ở Bình Dương, không xác định được mâu thuẫn vợ chồng.
Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng
có nghĩa vụ sống chung với nhau…………”. Chị N và anh T ly thân từ tháng 02 năm 2023, ông ngọai chị N có đến gặp anh T và mẹ anh T để vợ chồng hàn gắn nhưng anh T không có thiện chí, điều này chứng minh mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị N được ly hôn anh T.
[2.2] Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Thảo Kim N1, sinh năm 2018 khi chị N không còn chung sống thì để lại cháu N1 cho anh T nuôi dưỡng. Chị N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Cháu N1 từ khi vợ chồng chị N và anh T ly thân đến nay anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để ổn định về điều kiện và môi trường sống Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu N1 cho anh T được tiếp tục nuôi con chung. Anh T chưa có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con thì anh T có quyền khởi kiện một vụ án khác về cấp đưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết. Anh T có quyền khởi kiện một vụ án khác về chia tài sản chung vợ chồng nếu có yêu cầu.
[2.4] Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh T không phải chịu án hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Chị N và anh T có 01 con chung Nguyễn Thảo Kim N1, sinh năm 2018 anh T đang nuôi dưỡng; giao anh T được tiếp tục nuôi con chung. Anh T có quyền khởi kiện chị N bằng một vụ án khác để yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
Anh T và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện chị N đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở chị N thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
Anh T có quyền khởi kiện một vụ án khác về chia tài sản chung vợ chồng nếu có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006634 ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thế Văn |
Bản án số 255/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 255/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N xin ly hôn T
