Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 255/2023/HS - ST

Ngày: 23/10/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Thúy

Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Ông Dương Xuân Tú, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh hoá tham gia phiên toà:

Bà Đặng Thị Thanh T Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 209/2023/HSST/TLST - HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2023/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T1, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn T2 và bà Hoàng Thị X; Bị cáo có chồng: Phạm Hữu Hoàng A (đang chấp hành án) và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/6/2023 đến ngày 06/7/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; “Có mặt”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phạm Hữu T3, sinh năm 1988. “Vắng mặt”
    Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa;
  2. Anh Trần Kim C, sinh năm 1985. “Vắng mặt”
    Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Căn cứ vào nội dung tố giác của công dân về việc Nguyễn Thị T1 có hành vi cho vay lãi năng. Ngày 27/6/2023 Co quan C2 Công an tinh T6 đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị T1 và tiến hành triệu tập Nguyễn Thị T1 để làm việc. Tại Cơ quan điều tra nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật Nguyễn Thị T1 đã xin đầu thú, đòng thời giao nộp 01 (một) bản photo giấy vay tiền mang tên người vay Nguyễn Xuân M đề ngày 18/4/2019; 01 (một) bản photo giấy vay tiền mang tên người vay Trần Kim C đề ngày 3/3/2020 và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau.

Từ khoảng tháng 5/2019 Nguyễn Thị T1 đã thực hiện hành vi cho vay lãi duới hình thức tín chấp (không cần tài sản cầm cố, thế chấp) đối với nhiều công dân trên địa bàn huyện Q và các khu vực giáp ranh với lãi suất dao động từ 6%/tháng đến 15%/tháng, tương ứng với lãi suất 72%/năm đến 180%/năm. Nguyễn Thị T1 đã tìm hiểu và tạo lập 01 (một) tài khoản trên trang web quản lý cho vay Mecash với tên miền truy cập là https://www.ag.mecash.vnđổi tên thành https://www.lcash.infocó tên đăng nhập là "Anhmapbindau", mật khẩu đăng nhập là: “1234567890", đăng ký bởi số điện thoại 0971.138.xxx, rồi sử dụng để quản lý các khoản cho vay. Đến tháng 4/2022, do dịch bệnh Covid-19, đa phần khách vay làm ăn thất bát, vỡ nợ dẫn đến không thu được lãi cũng như thu hồi được tiền gốc cho vay, thua lỗ nặng nên Nguyễn Thị T1 đã dừng hết hoạt động cho vay lãi. Từ đó đến nay, T1 cũng không sử dụng đến phần mềm quản lý cho vay Mecash nữa.

Căn cứ vào dữ liệu lưu trữ trên hệ thống quản lý cho vay Mecash (đã được Cơ quan CSĐT trich xuất lưu trữ trong 01 USB niêm phong theo quy dinh) và quá trình làm việc, xác minh với những người vay, xác định đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh Nguyễn Thị T1 thực hiện hành vi cho vay lãi nặng với những người vay sau:

  1. Ngày 04/11/2019, anh Phạm Hữu T3 vay của bị cáo số tiển 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất 15%/tháng, tương ứng với 180%/năm và đóng lãi theo chu kỳ 30 ngày. Đến ngày 04/9/2021 anh T3 tất toán khoản vay đã trả hết gốc và lãi cho T1. Tổng số tiền lãi anh T3 trả cho T1 là 49.650.000 đ (Bốn mươi chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
  2. Ngày 03/3/2020, anh Trần Kim C vay của T1 với số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất 9%/tháng, tương ứng với 108%/năm và đóng lãi theo chu kỳ 30 ngày. Đến ngày 10/12/2021 anh C1 đã đóng lãi cho T1 tổng số tiền là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng). Sau đó, do gặp khó khăn về kinh tế nên T1 không yêu cầu anh C trả tiền lãi nữa mà chi yêu cầu anh C1 trả tiền gốc đã vay cho T1. Hiện anh C chưa trà 30.000.000đ tiền gốc cho T1.

- Tai Công văn số: 1027/THH-TTGSNH ngày 10/8/2023 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh T, xác định:

  • Lãi suất cho vay = Số tiền lãi trà/số ngày vay x 365 ngày x 100% / Số tiền gốc (%/năm)
  • Số tiền lãi tối đa thu được = Số tiền vay x 20%/năm x Số ngày vay / 365 ngày (đồng)

Như vậy Nguyễn Thị T1 đã thu lợi bất chính 44.134.932 đồng đối với Pham Hữu T4 và đã thu lợi bất chính 43.347.945 đồng đối với Trần Kim C.

Thông qua dữ liệu trích xuất trên trang Mecash, xác định được 27 người vay của Nguyễn Thị T1. Trong đó có 15 trường hợp khách vay không đủ cơ sở dữ liệu để xác định nhân thân, lai lịch, địa chỉ để làm việc. Còn 12 trường hợp Cơ quan điều tra đã trực tiếp xác minh, làm việc. Kết quả: có 05 trường hợp khi xác minh tại địa bàn xã thì không đủ thông tin, dữ liệu để xác định chính xác nguời vay; 04 trường hợp nguời vay vắng mặt tại địa phương (chuyển vào M sinh sống) nên từ chối làm việc với cơ quan điều tra; 01 trường hop người vay Nguyễn Xuân M đã làm việc nhưng xác định số tiền thu lời bất chính dưới 30 triệu đồng và đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính

Tại bản cáo trạng số 130/CTr - VKS - P2 ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo bị cáo Nguyễn Thị Thủy về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo do mình bị cáo đang nuôi hai con nhỏ, chồng bị cáo đang đi chấp hành án do phạm tội Gây rối trật tư công cộng.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bị cáo từ 50 đến 60 triệu đồng;

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 BLHS.

  • + Buộc bị cáo Nguyễn Thị T1 phải nộp sung Ngân sách nhà nước số tiền 31.167.123 đồng gồm: (Tiền bị cáo sử dụng để cho khách hàng vay 15.000.000 đồng; và số tiền tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS mà bị cáo đã thu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan 16.167.123 đồng).
  • + Buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trần Kim C phải nộp để sung Ngân sách nhà nước số tiền gốc đã vay và đang còn nợ của bị cáo Nguyễn Thị T1 số tiền 30.000.000 đồng.
  • + Đối với số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015 mà bị cáo đã thu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Hữu T3, anh T3 không yêu cầu bị cáo trả lại nên không buộc bị cáo phải trả lại số tiền 44.134.932đ cho anh T3.
  • + Buộc bị cáo phải trả lại số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015 mà bị cáo đã thu của anh Trần Kim C số tiền 43.347.945 đồng.

Bị cáo nhận tội và công nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng và trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an tỉnh T6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận: Vào ngày 04/11/2019, bị cáo đã cho anh Phạm Hữu T3 vay số tiền 15.000.000đ với lãi suất 180%/năm, thu lợi bất chính 44.134.932đ. Ngày 03/3/2020 bị cáo cho anh Trần Kim C vay số tiền 30.000.000₫ với lãi suất 108%/năm, thu lời bất chính số tiền 43.347.945đ. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây các bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bị cáo Nguyễn Thị T1 đã cho anh T3 và anh C vay tiền với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính tổng số tiền 87.482.877đ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất vụ án, mức độ phạm tội và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý tiền tệ trong lĩnh vực Tài chính, Ngân hàng của Nhà nước; gây mất trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo diễn ra tại thời điểm loại tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến tín dụng đen có chiều hướng gia tăng, đã gián tiếp gây ra các tội phạm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Do bị cáo cho hai người vay tiền mà mỗi lần thu lợi bất chính từ 30.000.000đ trở lên, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên. Do bị cáo phạm tội hai lần trở lên, thu lợi bất chính trên 80.000.000đ nên cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo và áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo từ 30 đến 40 triệu đồng theo quy định tại Điều 36 BLHS là phù hợp.

Quá trình điều tra bị cáo bị tạm giữ thời gian từ ngày 28/6/2023 đến ngày 06/7/2023 (08 ngày) nên sẽ được quy đổi cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ (08 ngày x 3 = 24 ngày) để trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo không có thu nhập, đang nuôi hai con nhỏ, chồng bị cáo đang đi chấp hành án (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.

[6] Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Bị cáo Nguyễn Thị T1 có trách nhiệm trả lại cho anh Trần Kim C số tiền thu lời bất chính 43.347.945đ; Đối với số tiền thu lời bất chính 44.134.932đ của anh Phạm Hữu T3, do anh T3 tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho anh khoản tiền này, xét việc không yêu cầu của anh T3 là hoàn toàn tự nguyện nên được xem xét..

Truy thu số tiền gốc cho vay là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội gồm:

Truy thu để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị T1 số tiền 15.000.000₫ (đây là số tiền gốc anh T3 đã trả cho bị cáo) và truy thu của bị cáo số tiền 16.167.123 đ (tiền lãi mà bị cáo đã thu của anh C và anh T3) để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;

Truy thu của anh Trần Kim C số tiền 30.000.000đ (Tiền gốc anh C vay chưa trả).

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 36 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Nguyễn Thị T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

Xử phạt: Nguyễn Thị T1 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ (08 ngày x 3 = 24 ngày cải tạo không giam giữ); Bị cáo còn phải chấp hành 17 (Mười bảy) tháng 06 (Sáu) ngày;

Thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị T1 trả lại cho anh Trần Kim C số tiền thu lời bất chính 43.347.945₫ (Bốn mươi ba triệu, ba trăm bốn mươi bảy ngàn, chín trăm bốn mươi lăm đồng);

Truy thu để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị T1 tổng số tiền 31.167.123₫ (Ba mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm hai mươi ba đồng); Trong đó (T5 gốc bị cáo sử dụng để cho anh Phạm Hữu T3 vay 15.000.000 đồng; và số tiền tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS mà bị cáo đã thu của anh C và anh T3 16.167.123 đồng);

Truy thu để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước của anh Trần Kim C số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T1 phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người LQ;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2023/HS - ST ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 255/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Th bị truy tố và xét xử về tội : Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger