Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2023/HS-ST

Ngày 21-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Trọng Tuấn

Ông Đặng Huy Du

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Đức – Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên

tòa: Ông Đặng Văn Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 230/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2023/QÐST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 và Thông báo thời gian mở phiên tòa số 434/TB-TA ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Hữu T, sinh năm 1969 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu R và bà Vũ Thị N (đều đã chết); có vợ là Phạm Thị T1, sinh năm 1974; có hai con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 17/01/2023 chuyển tạm giam; từ ngày 03/4/2023 bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.

  2. Lê Trung K, sinh năm 1975 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Anh H và bà Phạm Thị N1; có vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975; có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 17/01/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

  3. Đỗ Xuân N2, sinh năm 1964 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 08/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân K1 và bà Phạm Thị C (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1964; có 03 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 đến ngày 17/01/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

  4. Phạm Trung Đ, sinh năm 1993 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trung Đ1 và bà Vũ Thị L; có vợ là Lương Thị L1, sinh năm 1994; có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/2/2023; có mặt.

  5. Vũ Văn T2, sinh năm 1980 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn M và bà Nguyễn Thị L2; có vợ là Đào Thị T3, sinh năm 1982; có 04 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2023; có mặt.

  6. Phạm Thị N3, sinh năm 1976 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Duy V và con bà Vũ Thị T4; có chồng là Phạm Đăng T5, sinh năm 1975; có 03 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/2/2023; có mặt.

  7. Phạm Hữu T6, sinh năm 1954 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu P và bà Trần Thị C1 (đều đã chết); có vợ là Phạm Thị B, sinh năm 1954; có 03 con, con lớn sinh năm 1977, con nhỏ sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/8/2021 Phạm Hữu T6 bị Công an huyện V xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi bán số đề theo Quyết định số 42/QĐ-XPHC (Đã nộp phạt vào ngày 30/8/2021); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/2/2023; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ông Đào Đình N4, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

  • + Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

  • + Ông Phạm Tăng T7, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

  • + Anh Phạm Mạnh H3, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

  • + Ông Trần Đức H4, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

  • + Ông Lương Cao T8, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

  • + Bà Đào Thị C2, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 15 phút, ngày 08/01/2023, tại nhà riêng của Phạm Hữu T ở xã C, huyện V, Hải Phòng và nhà riêng của Đỗ Xuân N2, Lê Trung K đều ở xã T, huyện V, Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H bắt quả tang Phạm Hữu T có hành vi tổ chức ghi đề cho người chơi, chuyển và nhận thầu lô, đề của người ghi lô, đề là Đỗ Xuân N2, Lê Trung K, Phạm Hữu T6 và các đối tượng Đào Đình N4; Phạm Thị H2; Phạm Tăng T7; Phạm Mạnh H3; Trần Đức H4; Đào Thị C2; Lương Cao T8, tài khoản Zalo tên M1, tài khoản Z tên T9. Tổng số tiền T nhận thể hiện qua tin nhắn Zalo là 53.175.000 đồng, sau đó T chuyển cho Phạm Thị N3 một phần số lô, đề tương ứng với số tiền 7.340.000 đồng. Ngoài ra, Lê Trung K còn chuyển số lô, đề tương ứng với số tiền 6.130.000 đồng cho Phạm Trung Đ.

Tạm giữ của Phạm Hữu T 01 tờ giấy (tích kê), 01 điện thoại Samsung A10, 01 Iphone 7, số tiền 4.775.000 đồng. Tạm giữ của Đỗ Xuân N2 01 điện thoại Honor, 01 bảng ghi số lô, đề ngày 08/01/2023, 01 quyển sổ màu xanh. Tạm giữ của Lê Trung K 01 điện thoại Samsung, 03 bảng ghi số lô, đề ngày 08/01/2023, số tiền 8.523.000 đồng.

Sau khi bị bắt quả tang, triệu tập các bị can và đối tượng đều khai nhận: Khoảng tháng 12/2022, Phạm Hữu T tổ chức ghi lô, đề, chuyển và giữ lại thầu một phần nhằm thu lợi. Hình thức đánh lô đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền B làm căn cứ ăn thua, theo đó nếu trúng đề (trúng 02 số cuối của giải đặc biệt) bạch thủ tỷ lệ ăn thua là 1/90 (đánh 01 đồng ăn 90 đồng), nếu trúng đề thường tỷ lệ ăn thua là 1/80, trúng ba càng (trúng 03 số cuối của giải đặc biệt) tỷ lệ ăn thua là 1/400, trúng lô (trúng 02 số cuối của 27 giải xổ số) tỷ lệ ăn thua là 1/3,4, trúng lô xiên 2 (trúng lô của 2 giải trong 27 giải xổ số) tỷ lệ ăn thua là 1/14, trúng lô xiên 3 (trúng lô của 3 giải trong 27 giải xổ số) tỷ lệ ăn thua là 1/48, trúng lô xiên 4 (trúng lô của 4 giải trong 27 giải xổ số) tỷ lệ ăn thua là 1/150.

3

Sau khi nhận các bảng đề và số lô, đề của người chơi trước 18 giờ 15 phút, T giữ lại thầu và chuyển một phần số lô, đề cho N3 để hưởng tiền hoa hồng, hôm sau các bị can đến nhà nhau để thanh toán. Phạm Thị N3 nhận chuyển số lô, đề từ Phạm Hữu T, Phạm Trung Đ nhận chuyển số lô, đề từ Lê Trung K, mặc dù thỏa thuận tỷ lệ ăn thua khác nhau nhưng cùng sử dụng hình thức trúng giải như trên để đánh bạc.

Trong ngày 08/01/2023, Lê Trung K đã ghi lô, đề và nhận tiền của khách là 8.878.000 đồng rồi chuyển lại cho T thể hiện qua tin nhắn hình ảnh Zalo là 2.748.000 đồng, số lô, đề còn lại K chuyển cho Phạm Trung Đ thể hiện qua tin nhắn Zalo tương ứng số tiền là 6.130.000 đồng. Đỗ Xuân N2 đã ghi lô, đề và nhận tiền của khách rồi chuyển lại cho T thể hiện qua tin nhắn Z là 18.804.000 đồng. Phạm Hữu T6 nhắn tin trực tiếp với T chơi 5.974.000 đồng tiền lô, đề, tài khoản Zalo tên T9 chuyển bảng 5.030.000 đồng. Ngoài ra còn xác định các đối tượng khác có hành vi chuyển bảng và chơi lô, đề trực tiếp với T nhưng số tiền đều dưới 5.000.000 đồng gồm: Đào Đình N4 chuyển bảng 4.385.000 đồng, Phạm Thị H2 chuyển bảng 2.823.000 đồng, Phạm Tăng T7 chuyển bảng 1.432.000 đồng, Phạm Mạnh H3 chuyển bảng 990.000 đồng, Trần Đức H4 chuyển bảng 622.000 đồng, Đào Thị C2 trực tiếp chơi đề 4.300.000 đồng, Lương Cao T8 trực tiếp chơi lô, đề 2.777.000 đồng, tài khoản Z tên M1 trực tiếp chơi đề 1.330.000 đồng. Tổng số tiền là 53.175.000 đồng, sau đó T nhắn tin Z chuyển cho Phạm Thị N3 một phần số lô, đề tương số tiền 7.340.000 đồng thì bị bắt quả tang.

Ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang ngày 08/01/2023, trên cơ sở lời khai của các bị can, kết quả phục hồi dữ liệu trong điện thoại thu giữ và kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền B, còn làm rõ được trước đó Lê Trung KĐỗ Trung N5 có hành vi ghi số lô, đề cho người chơi như sau:

Ngày 16/12/2022, Vũ Văn T2 mua số bao 88, 83, 70 mỗi số 1.000.000 đồng, trúng 02 số được 6.800.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 9.800.000 đồng. Ngày 18/12/2022, T2 mua số bao 88, 95, 80 mỗi số 1.000.000 đồng, trúng 01 số được 3.400.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 6.400.000 đồng. Ngày 20/12/2022 T2 mua số bao 93, 83, 79 mỗi số 1.000.000, mua số đề 79, 97 mỗi số 50.000 đồng, trúng 01 số bao được 3.400.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 6.500.000 đồng. Tất cả các lần T2 đều mua số của Lê Trung K, K không nhớ đã chuyển bảng số lô, đề cho ai.

Từ ngày 02/12/2022 đến ngày 07/01/2023, Lê Trung K còn nhiều lần ghi số lô, đề cho Phạm Trung N6, sinh năm 1988, trú tại: Thôn H, xã T, huyện V; Vũ Đức K2, sinh năm 1983, trú tại: Xóm G, Tam C3, huyện V; Đinh Quang H5, sinh năm 1986, trú tại: Xóm I, xã T, huyện V; Lương Cao T10, sinh năm 1969, trú tại: Thôn D, xã T, huyện V và một số người chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ. Tuy nhiên số tiền ghi số lô, đề và trúng thưởng mỗi lần đánh bạc đều không đến 5.000.000 đồng.

Từ ngày 19/12/2022 đến ngày 07/01/2023, Đỗ Xuân N2 nhiều lần ghi số lô, đề cho Nguyễn Tam Q, sinh năm 1973, trú tại: Thôn F, xã T, huyện V; Đinh Hữu T11, sinh năm 1977, trú tại: thôn F, T, V, Hải Phòng; Vũ Công V1, sinh năm 1955, trú tại: Thôn I, T, V, Hải Phòng và một số người chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ. Tuy nhiên số tiền ghi số lô, đề và trúng thưởng mỗi lần đánh bạc đều không đến 5.000.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 221/CT-VKS-P2 ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Hữu T về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 322 và Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lê Trung K, Đỗ Xuân N2, Phạm Trung Đ, Vũ Văn T2, Phạm Thị N3, Phạm Hữu T6 về tội Đánh bạc quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xác nhận: Ngày 08/01/2023, trên địa bàn huyện V, thành phố Hải Phòng, Phạm Hữu T tổ chức cho nhiều người ghi số lô, đề, chuyển và giữ lại thầu tổng số lô, đề tương ứng với số tiền 53.175.000 đồng. Trong đó Đỗ Xuân N2 chuyển bảng cho Thông số lô, đề tương ứng với số tiền 18.804.000 đồng, Phạm Hữu T6 nhắn tin trực tiếp với T mua số lô, đề tương ứng với số tiền 5.974.000 đồng tiền. Thông giữ lại thầu số lô, đề tương ứng với số tiền 45.960.000 đồng và chuyển cho Phạm Thị N3 số lô, đề tương ứng với số tiền 7.340.000 đồng. Lê Trung K chuyển bảng cho Thông số lô, đề tương ứng với số tiền 2.748.000 đồng và chuyển bảng cho Phạm Trung Đ số lô, đề tương ứng với số tiền 6.130.000 đồng. Khi bị bắt quả tang chưa mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền B.

Ngoài ra, khôi phục dữ liệu điện thoại của bị can Lê Trung K xác định 03 lần K ghi số lô, đề cho Vũ Văn T2: Ngày 16/12/2022, T2 mua số lô 3.000.000 đồng, trúng 6.800.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 9.800.000 đồng. Ngày 18/12/2022, T2 mua số lô 3.000.000 đồng trúng 3.400.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 6.400.000 đồng. Ngày 20/12/2022, T2 mua số lô 3.000.000 đồng, số đề 100.000 đồng, trúng 3.400.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 6.500.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng rút một phần nội dung truy tố đối với bị cáo Phạm Hữu T về hành vi đánh bạc; giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo khác như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự, phạt tiền đối với bị cáo Phạm Hữu T từ 70 đến 80 triệu đồng về tội Tổ chức đánh bạc;

  • - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 35; Điều 58, phạt tiền đối với bị cáo Lê Trung K từ 40 đến 50 triệu đồng về tội Đánh bạc;

  • - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự, phạt tiền đối với bị cáo Vũ Văn T2 từ 40 đến 50 triệu đồng về tội Đánh bạc;

  • - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự, phạt tiền đối với bị cáo Đỗ Xuân N2 từ 30 đến 40 triệu đồng về tội Đánh bạc;

  • - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự, phạt tiền đối với bị cáo Phạm Trung Đ từ 20 đến 30 triệu đồng về tội Đánh bạc;

  • - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự, phạt tiền đối với bị cáo Phạm Thị N3 từ 20 đến 30 triệu đồng về tội Đánh bạc;

  • - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự, phạt tiền đối với bị cáo Phạm Hữu T6 từ 20 đến 30 triệu đồng về tội Đánh bạc.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

- Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng, cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án do đã có lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh:

[3] Lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để xác định: Ngày 08/01/2023, trên địa bàn huyện V, thành phố Hải Phòng, Phạm Hữu T tổ chức cho nhiều người ghi số lô, đề, chuyển và giữ lại thầu tổng số lô, đề tương ứng với số tiền 53.175.000 đồng. Trong đó, Đỗ Xuân N2 chuyển bảng cho Thông số lô, đề tương ứng với số tiền 18.804.000 đồng, Phạm Hữu T6 nhắn tin trực tiếp với T mua số lô, đề tương ứng với số tiền 5.974.000 đồng tiền. Thông giữ lại thầu số lô, đề tương ứng với số tiền 45.960.000 đồng và chuyển cho Phạm Thị N3 số lô, đề tương ứng với số tiền 7.340.000 đồng. Lê Trung K chuyển bảng cho Thông số lô, đề tương ứng với số tiền 2.748.000 đồng và chuyển bảng cho Phạm Trung Đ số lô, đề tương ứng với số tiền 6.130.000 đồng. Khi bị bắt quả tang chưa mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền B. Ngoài ra, khôi phục dữ liệu điện thoại của bị can Lê Trung K xác định 03 lần K ghi số lô, đề cho Vũ Văn T2: Ngày 16/12/2022, T2 mua số lô 3.000.000 đồng, trúng 6.800.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 9.800.000 đồng. Ngày 18/12/2022, T2 mua số lô 3.000.000 đồng trúng 3.400.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 6.400.000 đồng. Ngày 20/12/2022, T2 mua số lô 3.000.000 đồng, số đề 100.000 đồng, trúng 3.400.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 6.500.000 đồng. Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Hữu T phạm tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lê Trung K, Đỗ Xuân N2, Phạm Trung Đ, Vũ Văn T2, Phạm Thị N3, Phạm Hữu T6 phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng kết luận tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo gây ra đã ảnh hưởng đến an toàn xã hội, trật tự công cộng. Đây được coi là một tệ nạn xã hội cần lên án mạnh mẽ. Mặt khác, khi thực hiện tội phạm các bị cáo đều có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo giáo dục các bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

- Về vai trò trong vụ án:

[5] Trong vụ án này, hành vi của các bị cáo đã thể hiện rõ vai trò của các bị cáo.

[5.1] Đối với hành vi tổ chức đánh bạc: Bị cáo T giữ vai trò độc lập, một mình bị cáo tổ chức cho nhiều người ghi số lô, đề và giữ lại thầu tổng số lô đề tương ứng với số tiền 53.175.000 đồng.

[5.2] Đối với hành vi đánh bạc: Bị cáo KT2 phạm tội nhiều lần, trong đó bị cáo K 03 lần ghi số lô, đề với tổng số tiền 9.800.000 đồng; bị cáo T2 03 lần mua lô, đề với tổng số tiền 6.500.000 đồng. Vai trò của hai bị cáo là gần như nhau nên hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là như nhau. Bị cáo N2 chuyển bảng cho Thông số lô đề tương ứng với 18.804.000 đồng; Bị cáo N3 nhận bản từ Thông số lô đề tương ứng 7.340.000 đồng; bị cáo Đ nhận bản từ Thông số lô đề tương ứng 6.130.000 đồng. Bị cáo T6 mua lô đề từ Thông tương ứng với số tiền 5.974.000 đồng. Khi áp dụng hình phạt, bị cáo K chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác, tiếp đến bị cáo T2, bị cáo N2, bị cáo N3, bị cáo Đ; bị cáo T6 chịu hình phạt thấp nhất.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[6] Bị cáo Lê Trung K, Vũ Văn T2 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, còn lại các bị cáo khác không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Cả 07 bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo K, T11, N3, N2, Đ, T6 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo T2 còn có thời gian phục vụ trong quân ngũ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[8] Bản thân các bị cáo đều có đơn xin phạt tiền, có đủ điều kiện đảm bảo cho việc thi hành án; xét thấy áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[9] Do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[10] 05 bảng ghi số lô, đề; 01 quyển sổ màu xanh là vật chứng thu giữ trong vụ án. Đây là công cụ, phương tiện được sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Đối với số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc thu giữ được là 13.298.000 đồng và 04 điện thoại di động đã qua sử dụng dùng để liên lạc vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Về án phí:

[12] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[13] Các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Hữu Thông số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Khấu trừ cho bị cáo Phạm Hữu Thông số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0000010 ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Trả lại cho bị cáo Phạm Hữu Thông số tiền còn lại là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) theo Biên lai thu số 0000010 ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Trung K phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Trung K số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Khấu trừ cho bị cáo Lê Trung K số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0000012 ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T2 số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân N2 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân N2 số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Khấu trừ cho bị cáo Đỗ Xuân N2 số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0000013 ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị N3 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị N3 số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Khấu trừ cho bị cáo Phạm Thị N3 số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) mà bị cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0000015 ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Trung Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Trung Đ số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Khấu trừ cho bị cáo Phạm Trung Đ số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0000011 ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu T6 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Hữu T6 số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Khấu trừ cho bị cáo Phạm Hữu T6 số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0000014 ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong nếu bị cáo Vũ Văn T2 chưa thi hành xong số tiền phải thi hành thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Bảo lĩnh” đối với các bị cáo kể từ ngày tuyên án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự,

- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước:

  • + Số tiền 13.298.000đ (Mười ba triệu hai trăm chín mươi tám nghìn đồng) .

    (Ngày 05/10/2023, ông Phạm Khắc K3 – Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã chuyển số tiền 13.298.000 đồng tại Ngân hàng TMCP Đ2 – Chi nhánh H6, Hải Phòng vào tài khoản của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

  • + 01 điện thoại Samsung Galaxy A10, số IMEI 1: 355853108423388, số IMEI 2: 355854108423386, đã qua sử dụng.

  • + 01 điện thoại Iphone 7plus, số IMEI: 356568082523123, đã qua sử dụng.

  • + 01 điện thoại Honon, màu xanh đen, đã qua sử dụng, có số IMEI: 867635035689368 và 867635035765515, đã qua sử dụng.

  • + 01 điện thoại Samsung, màu đen có số IMEI 1: 352473673674530 và 354866123674539.

- Tịch thu tiêu hủy: 05 bảng ghi số lô, đề; 01 quyển sổ màu xanh.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 10 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

5. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - Vụ 1 – TANDTC;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PC10 Công an TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TPHP;
  • - UBND xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng;
  • - UBND xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 255/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hữu T phạm tội Tổ chức đánh bạc và Lê Trung K phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger