Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 255/2024/HSST

Ngày: 27/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

---

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lâm

Ông Phùng Văn Thành

Thư ký phiên toà: Ông Dương Tuấn Duy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 252/2024/TLST-HS ngày 10/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2024/QĐXXST-HS ngày 14/11/2021 đối với bị cáo:

ĐÀM MINH T, sinh năm: 1983; HKTT và chỗ ở: Số H ngõ F N, phường N, quận L, Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Văn hóa: 8/12; con ông: Đàm Minh L, sinh năm: 1951; con bà: Lương Thị T1, sinh năm: 1956 (đã chết); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba.

Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 303 lập ngày 31/5/2024 của Công an quận L, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo có 02 tiền án.

  • - Bản án số 720/1998/HSST ngày 21/5/1998, TAND thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Cướp tài sản. (Đã xoá án tích)
  • - Bản án số 138/2010/HSST ngày 05/10/2010, TAND thành phố Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Đã xoá án tích)

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 25/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố H. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17h00' ngày 25/5/2024, tổ công tác Công an phường G làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ B N thuộc phường N, quận L, Hà Nội phát hiện Đàm Minh T điều khiển xe máy BKS: 30L4-4280 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện, 01 túi nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng dính bằng băng dính đen dưới tay ga xe máy. Tại chỗ, T khai nhận tinh thể màu trắng trên là ma túy loại Methamphetamine của T đang đi bán cho khách kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong tang vật, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa T về trụ sở để điều tra làm rõ.

Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead BKS: 30L4-4280; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 pro màu vàng đã qua sử dụng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đàm Minh T tại số H ngõ F N, phường N, L, Hà Nội thu giữ trong phòng của T tại tầng 2: Thu giữ trong ngăn kéo bàn cạnh giường ngủ: 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 01 cân điện tử; 01 túi nilon bên trong chứa 40 vỏ túi nilon chưa qua sử dụng. Thu giữ trên thành giường sát tường 01 bộ tẩu hút tự chế đều dính tinh thể màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 3846/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:

  • Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,924 gam.

Tang vật thu giữ khi khám xét:

  • - Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 1,966 gam.
  • - 01 cân điện tự và 01 bộ tẩu hút tự tạo có dính ma túy loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Đàm Minh T khai nhận: Ngày 22/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên T có sử dụng facebook cá nhân tên “Đàm Tuấn” để liên lạc với Nguyễn Quốc T2 (Sinh năm: 1991; HKTT: TT Đại học An ninh, xã T, huyện T, Hà Nội; Chỗ ở: Ngõ G C, phường V, quận H, Hà Nội) để mua ma túy sử dụng. T2 đồng ý bán cho T 4.500.000 đồng ma túy và đến nhà T để giao ma túy. T chuyển khoản thanh toán tiền mua ma túy cho T2 đến số tài khoản 02890477801 của T2 mở tại Ngân hàng TMCP T3. Sau khi nhận ma túy, T mang lên phòng ngủ của T trên tầng 2 chia ra thành 02 phần ma túy, một phần để sử dụng cho bản thân (T đã sử dụng hết trong 3 ngày 22, 23, 24/5/2024) còn một phần ma túy T chia ra thành 03 túi nilon nhỏ mục đích để bán kiếm lời. Sau đó, T đã đăng lên group facebook có tên “hội đập đá hà nội” để bán ma túy. Sáng ngày 25/5/2024, có một người đàn ông tên P sử dụng tài khoản facebook “Phát P” nhắn tin vào facebook của T hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy. T đồng ý và hẹn P đến nhà T tại số H ngõ F N, phường N, quận L để lấy ma túy. Sau khi đến nhà T, P có lấy ma túy T đưa để dùng thử nhưng do không đạt yêu cầu nên P trả lại không mua nữa. Tiếp tục đến khoảng 16 giờ ngày 25/5/2024, P nhắn tin vào facebook của T hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá, T đồng ý rồi hẹn người này đến 252 N để giao nhận ma túy. Khi đi, T mang 01 túi nilon ma túy đá đến địa điểm đã hẹn để bán cho P thì bị công an kiểm tra bắt quả tang. Đối với 02 túi nilon chứa ma túy thu giữ khi khám xét tại nhà T, T nhằm mục đích bán tiếp khi có khách hỏi mua ma túy.

Trong giai đoạn điều tra, ngày 05/6/2024 Đàm Minh T thay đổi lời khai về nguồn gốc số ma túy T tàng trữ để bán. Số ma túy trên T mua của một người đàn ông không quen biết tại T, Bắc Ninh còn số tiền 4.500.000 đồng T chuyển cho T2 là tiền mua đồ ăn không liên quan đến việc mua bán ma túy. Trước đây khi mới bị bắt do đã sử dụng ma túy nên tinh thần không tỉnh táo nên đã khai T2 là người bán ma túy. Nguyễn Quốc T2 khai: Ngày 21/5/2024, T có chuyển khoản cho T2 4.500.000 đồng với mục đích để mua đồ ăn và không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy. Hiện Nguyễn Quốc T2 bị khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự do Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân đang thụ lý giải quyết.

Lời khai của Đàm Minh T phù hợp với lời khai của Nguyễn Quốc T2 cùng với lời khai của nhân chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đàm Minh T tại T, Bắc Ninh và người đàn ông tên P mua ma túy của T ngày 25/5/2024: Quá trình điều tra, Đàm Minh T khai không biết nhân thân lai lịch, địa chỉ của hai người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead BKS: 30L4-4280: Tài liệu điều tra xác định, xe máy trên đăng ký tên bà Lương Thị T1 (Sinh năm: 1979; số H ngõ F N, phường N, quận L, Hà Nội – mẹ của Đàm Minh T). Ngày 12/10/2023, bà Lương Thị T1 chết và chiếc xe trên giao cho ông Đàm Minh L (Sinh năm: 1951 – chồng bà T1) quản lý sử dụng. Ngày 25/5/2024, Đàm Minh T sử dụng chiếc xe máy trên đi mua ma túy ông Đàm Minh L không biết. Kết quả tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho ông Đàm Minh L. Sau khi nhận xe, ông Đàm Minh L không có ý kiến gì.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 pro: Quá trình điều tra xác định, điện thoại trên thuộc sở hữu của Đàm Minh T và sử dụng để liên lạc trong quá trình mua bán ma túy. Chuyển Tòa án nhân dân quận Long Biên xem xét, xử lý.

Đối với 01 túi nilon chứa 0,924 gam ma túy loại Methamphetamine (PC09 thu mẫu 0,066 gam); 02 túi nilon chứa 1,966 gam ma túy loại Methamphetamine (PC09 thu mẫu 0,185 gam); 01 cân điện tử; 01 túi nilon bên trong chứa 40 vỏ túi.

Tại Bản cáo trạng số: 235/CT-VKS-LB ngày 09/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Đàm Minh T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội tại phiên tòa như sau:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo Đàm Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đàm Minh T mức án từ 8 năm đến 8 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị cho tịch thu tiêu hủy 2,639 gam ma túy loại Methamphetamine (Khối lượng ban đầu là 2,89 gam, PC 09 thu mẫu giám định 0,251 gam); 01 cân điện tử; 01 bộ tẩu hút tự chế; 46 túi nilon thu giữ của bị cáo.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 pro thu giữ của bị cáo do là phương tiện phạm tội.

Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 25/5/2024, Đàm Minh T có hành bán ma túy cho đối tượng “Phát P” 02 lần. Lần thứ nhất, vào sáng ngày 25/5/2024 tại nhà số H ngõ F N, phường N, quận L, Hà Nội, T bán 500.000 đồng ma túy Methamphetamine cho “Phát Pu” nhưng do không đạt yêu cầu nên bị “Phát P” trả lại. Lần thứ hai, khoảng 17h00' cùng ngày tại khu vực ngõ B N thuộc phường N, quận L, Hà Nội, T có hành vi bán cho “Phát Pu” 0,924 gam ma túy Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng nhưng đang trên đường đi giao ma túy thì bị Công an phường G phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Ngoài ra, Đàm Minh T có hành vi tàng trữ tại nhà số H ngõ F N, phường N, L, Hà Nội 1,966 gam Methamphetamine nhằm mục đích để bán kiếm lời.

Tổng số ma túy mà Đàm Minh T tàng trữ để bán kiếm lời và phải chịu trách nhiệm hình sự là 2,890 gam Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo Đàm Minh T có đầy đủ dấu hiệu của tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra.

Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có điều kiện kinh tế, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng: Cho tịch thu tiêu hủy 2,639 gam ma túy loại Methamphetamine (Khối lượng ban đầu là 2,89 gam, PC 09 thu mẫu giám định 0,251 gam); 01 cân điện tử; 01 bộ tẩu hút tự chế; 46 túi nilon thu giữ của bị cáo.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 pro thu giữ của bị cáo do là phương tiện phạm tội.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt chính, không áp dụng hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T và người đàn ông tên P mua ma túy của T ngày 25/5/2024: Quá trình điều tra, T khai không biết nhân thân lai lịch, địa chỉ của hai người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ. Khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead BKS: 30L4-4280: Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho ông L là có căn cứ:

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đàm Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  1. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

    Xử phạt bị cáo Đàm Minh T 8 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy 2,639 gam ma túy loại Methamphetamine (Khối lượng ban đầu là 2,89 gam, PC 09 thu mẫu giám định 0,251 gam); 01 cân điện tử; 01 bộ tẩu hút tự chế; 46 túi nilon thu giữ của bị cáo.

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 pro thu giữ của bị cáo.

    (Hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/10/2024).

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Án xử công khai sơ thẩm.

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND T.p Hà Nội;
  • - VKSND q.Long Biên;
  • - Chi cục THADS q.Long Biên;
  • - Sở Tư pháp T.p Hà Nội;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 255/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đàm Minh T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger