trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2024/HS-ST
Ngày: 13-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Bà Thân Thị Tuyết Nhung
    2. Ông Nguyễn Văn Tư
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Tống Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 13/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 243/2024/HSST ngày 27/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST – HS ngày 02/12/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 2004; Giới tính: Nam; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Văn hoá: 09/12; Bố: Phạm Văn S, sinh năm 1981; Mẹ: Đồng Thị M, sinh năm 1982; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất.

-Nhân thân:

  • + Ngày 04/5/2023, bị Chủ tịch UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản
  • + Ngày 25/5/2023, bị Chủ tịch UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính hành vi trộm cắp tài sản.

-Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 139 ngày 19/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 18/5/2024.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B và có mặt tại phiên toà.

* Bị hại:

  1. Cháu Nguyễn Quang T1, sinh năm 2017 (Vắng mặt)

    Đại diện hợp pháp cho cháu Nguyễn Quang T1: Chị Lê Thị P, sinh năm 1993 (là mẹ đẻ) - (Vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: Thôn Núm, xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

  2. Cháu Nguyễn Đức A, sinh năm 2013(Vắng mặt)

    Đại diện hợp pháp cho cháu Nguyễn Đức A: Anh Nguyễn Quang S1, sinh năm 1975 (là bố đẻ)- (Vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Nguyễn Quang T1 và cháu Nguyễn Đức A: Bà Nguyễn Hải L, sinh năm 1986 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt)

Địa chỉ: Số F, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Cháu Lê Xuân B, sinh năm 2008 (Vắng mặt)

    Đại diện hợp pháp cho cháu B: Anh Lê Văn T2, sinh năm 1980

    Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Số nhà D, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1969 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Số nhà D, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  2. Cháu Nguyễn Duy K, sinh năm 2014 (Vắng mặt)

    Đại diện hợp pháp cho cháu K: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986

    Cùng địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T, sinh năm 2004, trú tại thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và chưa được xoá án tích. Trong tháng 10/2024, T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã D, thành phố B, cụ thể như sau:

* Vụ thứ nhất: Buổi sáng ngày 02/10/2024, Phạm Văn T điều khiển xe mô tô đến huyện L, tỉnh Bắc Giang chơi. Khi T điều khiển xe đi về thì bị Cảnh sát giao thông Công an huyện L kiểm soát và giữ xe lại. T đi xe khách về thành phố B rồi xuống xe trước cổng trường Cao đẳng công nghệ Việt H1 rồi đi bộ trên đường. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T đi đến đoạn đường gần nghĩa trang L1 xã D thì nhìn thấy cháu Nguyễn Đức A, sinh năm 2013, trú tại thôn N, xã D, thành phố B đang đứng chơi cùng một số bạn. T quan sát thấy cháu Đức A có đeo trên cổ một sợi dây chuyền bạc có nhiều mắt đan nhau, mặt dây chữ “A” nên nảy sinh ý định trộm cắp. T rủ cháu Đức A chơi trốn tìm cùng các cháu nhỏ mục đích lợi dụng lúc cháu Đức A sơ hở sẽ trộm cắp sợi dây chuyền. Khi T và cháu Đức A cùng trốn ở bụi cỏ, T ở phía sau lưng cháu Đức A dùng tay phải cầm sợi dây chuyền kéo về phía sau mục đích để tìm móc khoá. Cháu Đức A thấy sợi dây chuyền bị kéo về phía sau chạm vào cổ nên cầm sợi dây chuyền kéo lại về phía trước làm sợi dây chuyền bị đứt, cháu Đức A cầm sợi dây chuyền trên tay. T bảo giúp đeo lại sợi dây chuyền thì cháu Đức A nói “thôi ạ”. Cháu Đức A nghi ngờ T lấy sợi dây chuyền nên không chơi trốn tìm nữa mà đi ra đạp xe về nhà. Sau đó, cháu Đức A kể cho anh Nguyễn Quang S1, là bố đẻ biết sự việc. Bà Hoàng Thị D là mẹ cháu Đức A đem sợi dây chuyền đi nối lại.

* Vụ thứ 2: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/10/2024, Phạm Văn T nhắn tin qua Facebook cho anh Lê Xuân B, sinh năm 2008, trú tại thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang rủ đến quán I chơi. Anh B đồng ý rồi điều khiển xe mô tô đến đón T rồi đưa đến quán Đ1 tại xã D, thành phố B chơi điện tử. Khoảng 30 phút sau, T bảo anh B đưa về. Khi đi qua nhà văn hoá thôn N thì T nhìn thấy cháu Nguyễn Đức A, sinh năm 2013; Nguyễn Duy K, sinh năm 2014; Nguyễn Quang T1, sinh năm 2017; Nguyễn Tuấn P1, sinh năm 2013, đều trú tại thôn N, xã D, thành phố B đang chơi bóng đá tại đây. T bảo anh B dừng lại để vào đá bóng cùng. Hai người đi vào sân nhà văn hoá tham gia đá bóng cùng các cháu nhỏ. Một lúc sau, T bảo cháu Đức A đi về nhà lấy nước uống. T xin anh B 6.000 đồng để đi mua đồ ăn. Sau đó, T bảo cháu T1 chở T đi mua đồ ăn. Cháu T1 lấy xe đạp kèm T ngồi phía sau đi tìm quán tạp hóa.

Trên đường đi, T nhìn thấy cháu T1 đeo trên cổ 01 sợi dây chuyền bạc (loại có nhiều mắt đan nhau, mặt dây hình chữ T) nên nảy sinh ý định trộm cắp. T bảo cháu T1 để T giúp chỉnh cổ áo. Lợi dụng lúc cháu T1 đang đạp xe không để ý, T dùng tay tháo móc khóa sợi dây chuyền của cháu T1 rồi đút vào túi quần bên phải đang mặc. Lúc này, cháu T1 không biết việc T trộm cắp sợi dây chuyền. Sau khi trộm cắp xong, T bảo cháu T1 quay về sân nhà văn hoá thôn N. Cùng lúc này, anh Nguyễn Quang S1 là bố đẻ của cháu Đức A đi đến và hỏi T về việc lấy sợi dây chuyền của cháu Đức A trước đó thì T không thừa nhận và đi về nhà mẹ đẻ. Lúc này, cháu Đức A nhìn thấy cháu T1 không đeo sợi dây chuyền bạc nữa nên hỏi thì cháu T1 mới biết mất sợi dây chuyền bạc. Sau đó, anh S1 trình báo đến Công an xã D.

Đối với T thuê xe ôm chở đến tiệm V của ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968 ở số nhà D, đường T, phường T, thành phố B để bán sợi dây chuyền bạc đã trộm cắp của cháu T1. Ông Đ xem sợi dây chuyền và đồng ý mua rồi trả cho T 250.000 đồng tiền mặt. Do giá trị tài sản không lớn nên ông Đ không hỏi và T cũng không nói về nguồn gốc sợi dây chuyền bạc. Sau đó, T đi về nhà tại thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Tại kết luận định giá tài sản số 261/KL-HĐ ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • - 01 dây chuyền bạc có nhiều mắt đan vào nhau, mặt dây chuyền hình chữ “T”, khối lượng 4,4 chỉ, trị giá tại thời điểm ngày 13/10/2024 là 440.000 đồng.
  • - 01 dây chuyền bạc có nhiều mắt đan vào nhau, mặt dây chuyền hình chữ “A”, khối lượng 5,7 chỉ, trị giá tại thời điểm ngày 02/10/2024 là 570.000 đồng

Tổng trị giá tài sản trộm cắp là: 1.010.000 đồng

Tại bản cáo trạng số 243/CT - VKS ngày 24/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Phạm Văn T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự đến nay không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm nên bị cáo không có ý kiến gì.

Bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 8 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ này bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 15/10/2024.
  • Do bị cáo không có tài sản riêng, hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • Về trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Quang T1, cháu Nguyễn Đức A đã được trả lại các sợi dây chuyền; ông Nguyễn Văn Đ đã được trả lại số tiền 250.000 đồng. Đến nay cháu T1, cháu Đức A và ông Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

-Bị cáo tranh luận: Về tội danh, điều luật áp dụng và các vấn đề khác bị cáo không có ý kiến gì. Tuy nhiên, về hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là cao do giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 1.010.000 đồng.

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại, bà Nguyễn Hải L trình bầy: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác có liên quan. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh phạm tội để quyết định mức hình phạt phù hợp, đảm bảo quyền lợi cho các bị hại là các cháu nhỏ.

-Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Vẫn giữ nguyên quan điểm đã đề xuất về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Việc áp dụng mức hình phạt như vậy đối với bị cáo là tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo.

-Bị cáo không tranh luận gì thêm.

Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người liên quan, người làm chứng: Tại phiên tòa bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ và xét thấy việc vắng mặt họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người liên quan và người làm chứng là có căn cứ.

[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình gây ra. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Phạm Văn T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích. Ngày 02/10/2024, T nảy sinh ý định trộm cắp sợi dây chuyền bạc mà cháu Nguyễn Đức A đeo trên cổ nên rủ cháu Đức A chơi trốn tìm mục đích lợi dụng sơ hở sẽ trộm cắp. Trong lúc chơi trốn tìm, T dùng tay kéo dây chuyền trên cổ cháu Đức A ra phía sau để tìm mở móc khoá thì cháu Đức A kéo lại làm đứt sợi dây chuyền nên T không trộm cắp được.

Ngày 13/10/2024, T bảo cháu Nguyễn Quang T1 đi xe đạp chở T đi mua nước và đồ ăn. Lợi dụng lúc cháu T1 đang đạp xe không để ý, T dùng tay tháo móc khóa sợi dây chuyền của cháu T1 đeo trên cổ rồi đút vào túi quần. Sau đó T đem sợi dây chuyền đi bán được 250.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ sợi dây chuyền trả lại cho người bị hại.

Tổng giá trị tài sản T trộm cắp 2 vụ là 1.010.000 đồng.

[4] Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo T chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội 02 lần với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 1.010.000 đồng. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng xong đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử hình sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” và “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

[9] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt vi phạm hành chính nhưng không lấy đó làm bài học rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Do bị cáo không có tài sản riêng, hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Quang T1, cháu Nguyễn Đức A đã được trả lại các sợi dây chuyền; ông Nguyễn Văn Đ đã được trả lại số tiền 250.000 đồng. Đến nay cháu T1, cháu Đức A và ông Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

[11] Đối với ông Nguyễn Văn Đ mua sợi dây chuyền bạc do Phạm Văn T đem đến bán nhưng không biết là tài sản do T trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[12] Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

  1. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 15/10/2024.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang(1b);
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang.
  • - VKSND thành phố Bắc Giang (2b);
  • - THADS thành phố Bắc Giang (4 b);
  • - Lưu HS.VP (1b);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.
  • - UBND xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  • - Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, người liên quan.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 255/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger