Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 255/2024/HSST

Ngày: 11 - 12 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Đặng Tấn Đức;

2/ Bà Lê thị Sao.

Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Phan Minh Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 265/2024/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Nhật T; sinh năm 2000, tại: Hậu Giang; Nơi đăng ký NKTT: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang; chổ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị T1 (chết); vợ, con: chưa có.

Tiền án: Ngày 11/9/2023, bị Tòa án nhân dân quận 12, TP . xử phạt 12 tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 164/2023/HS-ST. Ngày 17/02/2024 chấp hành xong hình phạt.

Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam ngày 22/05/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T4) Công an T5 và có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: anh Trầm Hoàng T2, sinh năm 2004; trú tại: nhà trọ tổ A, khu phố Ô, phường T, TP ., tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Văn Q, sinh năm 1987; trú tại: G Â, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 19/5/2024, anh Trầm Hoàng T2 điều khiển xe gắn máy hiệu Suzuki Satria, biển số 68G2-060.73 chở T3 (bạn gái của anh T2, không rõ lai lịch) từ Bình Dương đến nhà trọ của Nguyễn Tấn Đ chơi tại địa chỉ số A T, phường T, quận T, Thành phố H. Ở đây, anh T2 và T3 gặp Nguyễn Nhật T cùng với Q1 (bạn gái của Đ, không rõ lai lịch). Lúc này, anh Nguyễn Quốc N là chủ nhà trọ thấy phòng trọ của Đ tụ tập đông người nên không đồng ý và yêu cầu Đ dẫn bạn đi chỗ khác chơi. Sau đó, Đ rủ anh T2, T3 và T đến quán cà phê tại địa chỉ A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ngồi trước chờ Đ đến sau. Lúc này, T hỏi mượn chiếc xe máy hiệu Suzuki Satria, biển số 68G2-060.73 của anh T2 để đi đón bạn gái nhưng anh T2 không trả lời. Anh T2, T3 và T cùng đi đến quán cà phê đã hẹn với Đ thì nhìn thấy Nguyễn Hoàng C (không rõ lai lịch) là bạn cùng phòng trọ với Đ đang ngồi trong quán cà phê nên muốn đến ngồi cùng với C nhưng nhóm chưa kịp ngồi thì T tiếp tục hỏi mượn xe máy của anh T2 để đi rước bạn gái thì anh T2 đồng ý và giao chiếc xe gắn máy hiệu Suzuki Satria, biển số 68G2-060.73 cho T sử dụng. T điều khiển xe máy đi được một đoạn thì Đ điện thoại qua ứng dụng Zalo và sim số 0788934193 nói với T là “Đi rước bạn gái xong mang xe của anh T2 đi cầm, giấy tờ xe của anh T2 đang để trong cốp xe, cầm xong xe thì lấy 2.000.000 đồng”, do thiếu tiền tiêu xài nên T đồng ý. T quay lại nhà trọ của Đ thì gặp C đang đi bộ đến chỗ nhà trọ nói cùng đi cầm xe với T. Thấy vậy, T điều khiển xe gắn máy của anh T2 chở C đến cửa hàng C1 địa chỉ G Â, phường T, quận T, sử dụng thông tin của anh T2 để cầm chiếc xe máy trên với giá 8.000.000 đồng. Sau đó, T và C bắt xe grab đến tiệm C2, số I Â, phường A, quận T để chuộc 02 chiếc điện thoại của C đã cầm trước đó với số tiền 1.500.000 đồng, T trả tiền Grab hết 50.000 đồng rồi T sử dụng tài khoản Momo chuyển khoản đến tài khoản của C số 0782881128 được mở tại ngân hàng M số tiền 4.000.000 đồng chia cho C và Đ, còn giữ lại 2.450.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/05/2024, Đ gọi điện rủ T đem giấy phép lái xe bản chính của anh T2 tiếp tục đi cầm lấy tiền tiêu xài, T đồng ý và đem giấy phép lái xe bản chính của anh T2 đến tiệm C3 địa chỉ G Â, phường T, quận T cầm được 500.000 đồng. Sau đó, T chia cho Đ 270.000 đồng và giữ lại 200.000 đồng còn 30.000 đồng dùng trả tiền xe G. Đến khoảng 23 giờ 45 phút ngày 21/5/2024, T bị Công an phường T kiểm tra hành chính trước địa chỉ G T, phường T, quận T và mời về trụ sở để làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Nhật T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 1647/KL-HĐĐGTS ngày 18/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự quận T, tại thời điểm định giá ngày 19/5/2024 kết luận: “01 xe gắn máy nhãn hiệu Suzuki loại Satria, biển kiểm soát 68G2-060.73, màu trắng-đỏ-đen, số máy CGA1610737, số khung MH8DL11ANMJ110691 đã qua sử dụng có trị giá 26.500.000 đồng” (BL 81).

Vật chứng thu giữ: Có bản kê vật chứng kèm cáo trạng

Về phần dân sự:

- Đối với anh Trầm Hoàng T2 đã nhận được tài sản là xe gắn máy hiệu Suzuki Satria biển số 68G2-060.73 nên không có yêu cầu bồi thường gì khác (BL 156).

- Đối với anh Ngô Văn Q là người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan yêu cầu bồi thường số tiền 8.500.000 đồng (BL 190, 191).

Tại bản cáo trạng số 284/CT-VKSQ.TP ngày 08 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhật T về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên Tòa:

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần dân sự và vật chứng.

- Bị cáo Nguyễn Nhật T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Nhật T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: Vào lúc 16 giờ 20 phút, ngày 19/5/2024 tại quán cà phê tại địa chỉ A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Nhật T được anh Trầm Hoàng T2 cho mượn xe, do thiếu tiền tiêu xài đã nảy sinh chiếm đoạt 01 xe gắn máy nhãn hiệu Suzuki loại Satria, biển kiểm soát 68G2-06073, màu trắng-đỏ-đen, số máy: CGA1610737, số khung: MH8DL11ANMJ110691 đã qua sử dụng có trị giá 26.500.000 đồng của anh T2.

Cáo trạng số 284/CT-VKSQ.TP ngày 08 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhật T về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng: Ngày 11/9/2023 bị Tòa án nhân dân Quận 12, TP . xử phạt 12 tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 17/02/2024 chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích, ngày 19/05/2024 bị cáo lại tiếp tục phạm tội, nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, Sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Đối với đối tượng Nguyễn Tấn Đ, C (không rõ lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục xác minh, truy tìm, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, người bị hại anh Trầm Hoàng T2 đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Ngô Văn Q yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền: 8.500.000 đồng là tiền T cầm cố 01 xe gắn máy và 01 Giấy phép lái xe của anh T2. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Q. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường giữa anh Q và bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Suzuki SATRIA biển số: 68G2-06073, màu trắng-đỏ-đen; số khung: MH8DL11ANMJ110691; Số máy: CGA1610737, tình trạng đã qua sử dụng được Trầm Hoàng T2 mua tháng 05 năm 2023 với giá 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) và đứng tên chủ sở hữu.

- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số: [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh K cấp này 05/02/2023, mang tên Trầm Hoàng T2, sinh ngày 01/04/2004, HKTT: Ấp X, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Xác minh tại Đội CSGT Công an quận T được biết: Chiếc xe gắn máy hiệu Suzuki SATRIA biển số: 68G2-06073, màu trắng-đỏ-đen; số khung: MH8DL11ANMJ110691; Số máy: CGA1610737 do Trầm Hoàng T2 đứng tên đăng ký sở hữu.

Ngày 23/7/2024, Phòng K Công an Thành phố T5 có kết luận giám định số 3854/KL-KTHS kết luận: “xe gắn máy hiệu Suzuki Satria biển số: 68G2-060.73 có số khung, số máy không thay đổi”.

Tại Thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng số 339/TB ngày 01/08/2024 của Công an quận T xác định chiếc xe máy hiệu Suzuki SATRIA biển số: 68G2-06073, màu trắng đỏ đen; số khung: MH8DL11ANMJ110691; Số máy: CGA1610737 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng (Theo cơ sở dữ liệu lưu trữ tại Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C4 tính đến ngày 01/08/2024).

Ngày 02/08/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 2541/QĐ-ĐTTH tiến hành trao trả chiếc xe máy trên và giấy phép lái xe hạng A1 số: [...] cho Trầm Hoàng T2 là phù hợp.

Thu giữ của Nguyễn Nhật T:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J3, màu đen, số I: 359229091868739. Đây là điện thoại cá nhân của Nguyễn Nhật T. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo T.

- Đối với 01 áo thun, màu trắng, trên áo có nhiều hoa văn; 01 quần thun, màu trắng, trên quần có nhiều hoa văn. Đây là trang phục của Nguyễn Nhật T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội (BL 119). Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Thu giữ của anh Trầm Hoàng T2;

- Đối với 01 tờ giấy Hợp đồng cầm đồ số 6315, Dịch vụ cầm đồ Thanh Hoài, địa chỉ G Â, phường T, quận T, TP . (Lưu hồ sơ vụ án).

[9] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí 200.000 đồng hình sự sơ thẩm và 425.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Nhật T phạm tội: "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

[2] Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Nhật T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 22/05/2024.

[4] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.

- Buộc bị cáo Nguyễn Nhật T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Ngô Văn Q số tiền: 8.500.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

[5] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun, màu trắng, trên áo có nhiều hoa văn; 01 quần thun, màu trắng, trên quần có nhiều hoa văn.

- Lưu hồ sơ vụ án: 01 tờ giấy Hợp đồng cầm đồ số 6315, Dịch vụ cầm đồ Thanh Hoài, địa chỉ G Â, phường T, quận T, TP ..

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Nhật T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J3, màu đen, số I: 359229091868739.

Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 266/PNK ngày 28/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T (BL 90).

[6] Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Buộc bị cáo Nguyễn Nhật T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 425.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Nhật T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - CATP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2024/HSST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 255/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger